Ngày xuất bản: 2026-08-25
Số báo đầy đủ
Nông học, Lâm Nghiệp
Nghiên cứu áp dụng hệ thống tưới tự động để nâng cao hiệu quả canh tác sầu riêng (Durio zibethinus L.) tại tỉnh Lâm Đồng
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.1.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.7M)
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới tự động tích hợp cảm biến trong canh tác sầu riêng (Durio zibethinus L.) tại xã Phước Lộc, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Hệ thống được thiết kế phù hợp với điều kiện địa hình thực tế và nhu cầu sinh lý của cây trồng, bao gồm béc tưới phun mưa bù áp, cảm biến độ ẩm đất và điều khiển từ xa. Thí nghiệm được thực hiện trên giống sầu riêng Ri6 (Durio zibethinus L. cv. Ri6) ba năm tuổi với hai phương pháp tưới là tự động và thủ công. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm lượng nước tưới, độ ẩm đất, chỉ số sinh trưởng, tỷ lệ ra hoa, đậu trái, tỷ lệ giữ trái và chín đúng vụ. Kết quả cho thấy nhóm tưới tự động tưới theo nhu cầu nước có tỷ lệ ra hoa cao hơn (68 so với 53%), số trái đậu trung bình cao hơn (7,2 so với 1,3 trái/cây), và tỷ lệ chín đúng thời điểm vượt trội (92 so với 35%). Kết quả đã khẳng định hiệu quả vượt trội của hệ thống tưới tự động không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng quả mà còn góp phần tối ưu hóa sử dụng nước, giảm chi phí lao động. Kết quả này khẳng định tiềm năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ tưới thông minh trong canh tác sầu riêng.
Đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ ở rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.2.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (633K)
Tóm tắt
Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái nhiệt đới, vừa cung cấp lâm sản vừa duy trì chức năng sinh thái và đa dạng sinh học. Nghiên cứu này nhằm phân tích cấu trúc rừng, đa dạng loài cây gỗ và tiềm năng tái sinh, làm cơ sở cho quản lý rừng. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 75 loài cây gỗ thuộc 59 chi, 38 họ, trong đó họ Dầu, Đậu, Đay, Na, Sim và Bồ hòn chiếm ưu thế. Phân tích chỉ số IV% xác định bảy loài ưu thế và đồng ưu thế gồm: Dầu rái, Cò ke, Xoay, Trâm mốc, Cám, Làu táu và Trường chua. Mật độ bình quân đạt 776 cây/ha, trữ lượng 85,2 m³/ha, phân bố chủ yếu ở nhóm đường kính D1,3 < 20 cm và lớp chiều cao 5 - 15 m. Chỉ số Shannon - Wiener phản ánh mức độ đa dạng trung bình đến cao, trong khi chỉ số đồng đều Pielou cho thấy không có loài nào chiếm ưu thế tuyệt đối. Tầng cây tái sinh có mật độ cao (6.100 cây/ha), chủ yếu từ hạt, với sự tham gia mạnh của Dầu rái, Cò ke, Xoay, Bằng lăng ổi, Trâm mốc và Cám. Đáng chú ý, tại khu vực đã phát hiện 11 loài gỗ quý, hiếm và nguy cấp thuộc Sách đỏ IUCN 2025, Sách đỏ Việt Nam 2024 và Nghị định 84/2021/NĐ-CP. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho định hướng bảo tồn, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và quản lý bền vững rừng phòng hộ Dầu Tiếng.
Chăn nuôi, thú y và thủy sản
Đánh giá khả năng kháng khuẩn của tinh dầu tràm trà thô (Melaleuca alternifolia) trên vi khuẩn Bordertella bronchiseptica được phân lập trên chó
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.3.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (401.8K)
Tóm tắt
Tinh dầu tràm trà (TTO) được chiết xuất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước ở 100oC trong 100 phút với hiệu suất khoảng 2,6%. TTO thu được có dạng chất lỏng trong suốt, màu từ vàng nhạt đến không màu và có mùi hơi cay nhẹ. Sau đó, tinh dầu này được kiểm tra khả năng kháng các chủng vi khuẩn Bordetella bronchiseptica phân lập từ chó có triệu chứng hô hấp. Trong số 45 mẫu bệnh phẩm thu được, 10 chủng Bordetella bronchiseptica đã được chọn lọc bằng PCR. Kết quả kháng sinh đồ cho thấy các chủng này có khả năng kháng nhiều loại kháng sinh phổ biến trong thú y, đặc biệt là amoxicillin (70%) và cephalosporin (80%). Tinh dầu tràm trà ức chế vi khuẩn Bordetella bronchiseptica ở nồng độ từ 5 đến 60 mg/mL với đường kính vòng kháng khuẩn từ 7,33 đến 23,33 mm được xác định bằng phương pháp khuếch tán trên môi trường thạch đĩa. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của tinh dầu tràm trà trên chủng Bordetella bronchiseptica Bb3 và Bb4 lần lượt là 0,08 và 0,04 mg/mL. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) đều là 0,156 mg/mL trên cả hai chủng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tinh dầu tràm trà có tiềm năng trở thành một phương pháp hỗ trợ điều trị an toàn và hiệu quả đối với bệnh hô hấp ở chó do Bordetella bronchiseptica gây ra. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu in vivo để khẳng định và đánh giá toàn diện hơn hiệu quả này.
Đặc điểm hình thái của loài cá đối lưng xanh Planiliza subviridis (Valenciennes, 1836) ở vùng cửa sông, ven biển Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.6.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (696.2K)
Tóm tắt
Loài cá đối lưng xanh Planiliza subviridis (Valenciennes, 1836) là một trong những loài cá có giá trị kinh tế, phân bố ở vùng cửa sông, ven biển huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh (hiện nay gồm các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Cần Giờ và Thạnh An). Nghiên cứu được thực hiện trên các mẫu cá thu tại huyện Cần Giờ. Ba mươi cá thể (mẫu ngâm) có chiều dài toàn thân 129,87 - 178,04 mm, trung bình 145,42 mm; trọng lượng 19,17 - 56,82 g, trung bình 30,01 g được sử dụng cho nghiên cứu đặc điểm hình thái. Tổng số 381 cá thể (129 đực, 245 cái, 7 không phân biệt giới tính) thu mẫu từ tháng 11/2023 đến 11/2024 dùng cho phân tích tương quan chiều dài khối lượng và hệ số điều kiện tương đối (Kn). Cá đối lưng xanh có đặc trưng hình thái (chỉ tiêu đếm) gồm D1 IV; D2 I,8; A III,9; V I,5; P 14 - 15; C 16, Pect sc 7 - 8, D1 sc 9 - 10, D2 sc 19 - 21, Ll 30 - 33. Tương quan chiều dài – khối lượng được thể hiện bằng phương trình chung W= 0,016 x L2,859 (R2 = 0,949; n = 381); Wcái= 0,017 x L2,842 (R2 = 0,947; n = 245); cá đực Wđực= 0,030 x L2,626 (R2 = 0,899; n = 129). Hệ số tăng trưởng (b) của cá cái cao hơn cá đực và khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Hệ số điều kiện tương đối (Kn) của cá đối vào mùa khô 0,720 - 1,378 (trung bình 0,988), mùa mưa 0,737 - 1,254 (trung bình 1,204). Giá trị Kn mùa mưa cao hơn mùa khô với sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (P < 0,01).
Nghiên cứu hồi cứu về ứng dụng mô hình học máy trong chẩn đoán bệnh thận mãn tính ở mèo dựa trên dữ liệu sinh lý và sinh hóa máu
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.5.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (747.4K)
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2025 đến 8/2025, tại các phòng khám thú y ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Nghiên cứu hồi cứu phân tích dữ liệu sinh lý và sinh hóa máu của 60 mèo [30 khỏe mạnh và 30 mắc bệnh thận mãn tính (CKD)] để đánh giá hiệu quả học máy (ML) trong chẩn đoán CKD và xác định chỉ số sinh học. Các chỉ số gồm hồng cầu (RBC), Hemoglobin (HGB), hematocrit (HCT), bạch cầu (WBC), bạch cầu trung tính (Neu#), bạch cầu ưa axit (Eos#), tế bào lympho (Lym#), bạch cầu đơn nhân (Mon#), tiểu cầu (PLT), alanine aminotransferase (ALT), aspartate aminotransferase (AST), ni-tơ trong urea huyết (BUN), Creatinine (Crea), protein tổng số (TP), albumin (ALB) và glucose (GLU). Dữ liệu được tiền xử lý, chia 80% huấn luyện và 20% kiểm tra. Bảy mô hình ML [Logistic Regression, K-Nearest Neighbors (KNN), Decision Tree, Random Forest, Gradient Boosting, Support Vector Machine (SVM), Naive Bayes] được đánh giá qua độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, F1-score và diện tích dưới đường cong (AUC). Mô hình SVM, Logistic Regression, KNN đạt độ chính xác 92%, với SVM có AUC cao nhất (0,98). Decision Tree, Random Forest, Naive Bayes kém hơn (75 - 83%), dễ tạo dương tính giả. Creatinine là chỉ số quan trọng nhất (hệ số ảnh hưởng: 1.178), tiếp theo là Mon#, AST, Neu#, WBC. Các chỉ tiêu Crea, WBC, Neu#, ALT và AST khác biệt đáng kể (P < 0,01) giữa mèo khỏe và mèo bệnh. Tóm lại, ML, đặc biệt SVM, hứa hẹn hỗ trợ chẩn đoán sớm CKD, nâng cao quyết định lâm sàng.
Ảnh hưởng của chỉ số nhiệt ẩm trong chuồng nuôi lên năng suất và chỉ số nhai lại của bò sữa giai đoạn khai thác sữa
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.4.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (419.9K)
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chỉ số nhiệt ẩm (THI) trong chuồng nuôi lên năng suất và chỉ số nhai lại (RI) của bò sữa giai đoạn khai thác sữa tại Trang trại Bò sữa Nutimilk Gia Lai từ tháng 07 đến 09/2024. Nghiên cứu được thực hiện trên 251 bò sữa HF từ 4 nhóm đang cho sữa ở 4 khu chuồng nuôi, gồm nhóm năng suất sữa cao khu 1 (78 bò), năng suất sữa cao khu 2 (57 bò), sau sinh khu 1 (58 bò) và sau sinh khu 2 (58 bò). Kết quả cho thấy nhiệt độ, độ ẩm và THI biến động rất lớn (P < 0,001) ở các chuồng nuôi cho 4 nhóm bò theo dõi và ở các thời điểm khác nhau trong ngày. Năng suất sữa, RI và lượng vật chất khô tiêu thụ (DMI) trung bình mỗi ngày khác nhau đáng kể (P < 0,001) giữa 4 nhóm bò. Năng suất sữa trung bình của 4 nhóm bò thì khác nhau rõ rệt ở 3 thời điểm vắt sữa trong ngày, cao nhất là ca 1 (5 - 7 giờ 30) đạt 12,89 kg/bò, kế đến là ca 3 (21 - 23 giờ 30 đạt 11,81 kg/ca và thấp nhất là ca 2 (13 - 15 giờ 30) đạt 11,23 kg/ca (P < 0,001). Chỉ số THI có mối tương quan nghịch rất chặc chẽ (P < 0,01) với năng suất sữa (r = -0,95), RI (r = -0,89) và DMI (r = -0,57). Nhìn chung, số liệu trong nghiên cứu chỉ ra rằng THI trong chuồng nuôi ảnh hưởng lớn và có tương quan nghịch chặt chẽ đến năng suất, RI và DMI trung bình mỗi ngày của bò giai đoạn khai thác sữa.
Đặc điểm sinh học của loài cá đối đầu nhọn Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) ở vùng cửa sông, ven biển Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.7.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (1M)
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm sinh học của loài cá đối đầu nhọn Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) ở vùng ven biển, cửa sông Cần Giờ. Các chỉ tiêu hình thái được đo, đếm trên 31 cá thể thu mẫu vào tháng 11/2022. Các đặc điểm sinh học được phân tích trên 344 cá thể cá thu từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2024. Tương quan chiều dài khối lượng (LWR), hệ số điều kiện tương đối (Kn), chiều dài ruột tương đối (RLG), kích cỡ thành thục sinh dục đầu (L50), hệ số thành thục sinh dục (GSI) và sức sinh sản tương đối (Fr) được tính theo công thức. Xác định sức sinh sản tuyệt đối (Fa) bằng phương pháp đếm. Kết quả cho thấy tương quan chiều dài khối lượng cá thể hiện bằng công thức W = 0,023 x L2,731 (R2 = 0,909; n = 344). Giá trị Kn mùa mưa cao hơn mùa khô (P < 0,001). Chiều dài ruột tương đối (RLG) trung bình đạt 2,66 (1,85 - 3,92). Hệ số thành thục sinh dục (GSI) cao nhất tháng 2/2024 (2,60%), thấp nhất tháng 8/2024 (0,08%). Sức sinh sản tuyệt đối 13.302,0 - 77.253,0 trứng/cá cái, tương ứng với cá có khối lượng thân 46,73 - 81,31 g. Sức sinh sản tương đối đạt 503.557,0 trứng/kg cá cái. Kích cỡ thành thục sinh dục lần đầu 159,86 mm. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi cá đối đầu nhọn của khu vực Cần Giờ.
Môi trường và Tài nguyên
Đánh giá hiệu quả xử lý N bằng công nghệ sinh học hiếu khí từng mẻ khi thay đổi tỉ lệ nhu cầu ôxi hóa học:N
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.8.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.1M)
Tóm tắt
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả xử lý Nitơ trong nước thải mô phỏng bằng công nghệ sinh học hiếu khí từng mẻ khi thay đổi tỉ lệ COD:N. Kết quả thực nghiệm với tải trọng bằng 1,14 kg COD/m³.ngày, nồng độ bùn trong khoảng 2500 ÷ 3000 mg/L ở pH 7 ÷ 8,5 và thời gian sục khí trong một mẻ là 6 giờ (vận hành 24 giờ liên tục) cho thấy so với tỉ lệ gốc COD:N = 100:5 (theo các giáo trình) thì COD : N = 100:7,5 là tối ưu nhất cho hiệu suất xử lý Tổng Nitơ ổn định trong khoảng 81,8 ÷ 93,3 % được xem là phù hợp nhất cho vận hành hệ thống Aerotank theo từng mẻ trong điều kiện nghiên cứu và thời gian sục khí được duy trì ở mức 6 giờ cho thấy hiệu quả xử lý Nitơ ổn định Đồng thời, hệ thống cũng cho thấy khả năng xử lý chất hữu cơ rất hiệu quả, với hiệu suất loại bỏ COD luôn duy trì ở mức trên 88% bất kể tỉ lệ COD:N được áp dụng trong quá trình nghiên cứu. Điều này chứng tỏ rằng quá trình xử lý không chỉ ổn định mà còn có tính linh hoạt cao, đáp ứng tốt các biến động về tải lượng hữu cơ trong nước thải.
Nghiên cứu sử dụng phế phẩm gạch gốm nghiền làm giá thể trồng cây hoa bâng khuâng (Angelonia angustifolia Benth.) tại tỉnh Bình Dương
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.9.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (339K)
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phế phẩm gạch gốm nghiền đến sinh trưởng và sự ra hoa của cây bâng khuâng (Angelonia angustifolia Benth.). Thí nghiệm một yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) gồm 5 nghiệm thức (G1: 40% xơ dừa + 40% tro trấu + 20% phân trùn (ĐC); G2: 80% ĐC + 20% gạch gốm nghiền; G3: 60% ĐC + 40% gạch gốm nghiền; G4: 40% ĐC + 60% gạch gốm nghiền; và G5: 20% ĐC + 80% gạch gốm nghiền) và 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 10 chậu, mỗi chậu 1 cây. Tổng số cây có trong thí nghiệm là 150 cây. Kết quả cho thấy độ thoáng khí có xu hướng tăng khi tăng liều lượng phối trộn phế phẩm gạch gốm nghiền trong giá thể, ngược lại khả năng giữ nước của hỗn hợp giá thể thì giảm, cụ thể khi thêm 80% đất sét nung vào hỗn hợp giá thể đối chứng thì độ thoáng khí tăng từ 11,8 lên 23,6% và khả năng giữ nước giảm từ 50,74 xuống 18,65%. Kết quả theo dõi quá trình sinh trưởng và sự ra hoa của cây bâng khuâng cho thấy giá thể có 40% phế phẩm gạch gốm nghiền + 60% hỗn hợp giá thể (xơ dừa + tro trấu + phân trùn theo tỉ lệ 2:2:1) thì cây đạt các chỉ tiêu cao nhất về chiều cao cây (36,9 cm), số cành cấp 1 (15,1 cành/cây), chiều dài cành hoa (25,5 cm), sinh khối hoa tươi (15 g), sinh khối hoa khô (8,3 g), thời gian ra nụ (18,6 ngày) và độ bền hoa (14,3 ngày).
Sự đa dạng của các loài sen đá trên thị trường cây cảnh của Thành phố Hồ Chí Minh và ứng dụng trong trang trí nội thất
Bản điện tử:
25 Aug 2026
| DOI:
10.52997/jad.10.04.2026
Tóm tắt
|
PDF (2M)
Tóm tắt
Nghiên cứu này tập trung khảo sát và định danh các loài sen đá được kinh doanh làm cảnh tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó ứng dụng trong thiết kế tiểu cảnh nội thất. Đề tài sử dụng phương pháp điều tra thực địa tại 10 quận của thành phố và định danh loài theo hình thái học kết hợp với tài liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu thực vật trực tuyến. Tổng cộng 66 loài sen đá thuộc 5 họ và 2 lớp thực vật đã được ghi nhận, trong đó lớp Magnoliopsida chiếm ưu thế tuyệt đối (81,8%), với họ Crassulaceae là đại diện nổi bật (chiếm 79% tổng số loài). Hình thái chiếm ưu thế là dạng xòe (82%), nguồn gốc của sen đá chủ yếu từ các khu vực có khí hậu khô cằn như Nam Phi và Mexico. Trên cơ sở đó, các tiểu cảnh với bố cục cân bằng, phối hợp giữa các dạng cây, vật liệu tái chế và phụ kiện trang trí theo chủ đề phù hợp các dịp lễ, tết và cả ngày thường được thực hiện nhằm minh họa khả năng kết hợp sen đá với vật liệu nội thất và biểu tượng văn hóa. Các tiểu cảnh cho thấy chi phí phù hợp, tính linh hoạt, giá trị thẩm mỹ và tiềm năng sinh thái của sen đá trong không gian nội thất đô thị hiện đại. Đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để phát triển mô hình sen đá trong thiết kế nội thất tại đô thị.