Ngày xuất bản: 2026-11-02

Ảnh hưởng của dịch nghiền hữu cơ đến cảm ứng tạo chồi và khả năng thay thế agar bằng một số vật liệu vô cơ ở giai đoạn tạo rễ của cây cúc cổ Sơn La (Chrysanthemum sp.)

Nguyễn Cao Kiệt, Lê Thị Thanh Trúc, Lê Thị Ngọc Thiện, Cao Thị Kiều Mi, Lâm Cao Huy, Lê Thuy Trang, Ngô Thị Thùy Trâm & Võ Văn Hoàng
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.3.05.2026
Tóm tắt | PDF (576.7K)

Tóm tắt

Cúc cổ Sơn La (Chrysanthemum sp.) là giống hoa cảnh thân gỗ, dạng bụi, có giá trị cao về cảnh quan và kinh tế, phù hợp trồng chậu và tạo dáng bonsai. Tuy nhiên, phương pháp nhân giống truyền thống của giống này còn hạn chế về hệ số nhân và chất lượng cây giống. Nghiên cứu được thực hiện nhằm nhân chồi, tạo rễ in vitro cho cây cúc cổ Sơn La và đánh giá khả năng thay thế agar bằng một số vật liệu vô cơ trong giai đoạn tạo rễ. Thí nghiệm được tiến hành trên môi trường MS (Murashige và Skoog) bổ sung 30 g/L sucrose qua hai giai đoạn. Ở giai đoạn nhân chồi, các đoạn thân được nuôi cấy trên môi trường MS có agar 8 g/L với bốn nghiệm thức gồm BAP 1,5 mg/L, dịch nghiền khoai tây 10% (w/v), dịch nghiền cà rốt 10% (w/v) và nước dừa 10% (v/v). Sau 42 ngày nuôi cấy, môi trường bổ sung 6-benzylaminopurine (BAP) 1,5 mg/L cho số chồi và số lá cao nhất (5,01 chồi/mẫu và 33,3 lá/mẫu), trong khi nước dừa 10% cải thiện đáng kể chiều cao chồi (4,62 cm). Ở giai đoạn tạo rễ, các đoạn thân cúc cổ Sơn La in vitro được cấy trên agar 8 g/L (đối chứng) và các vật liệu vô cơ gồm lava đỏ, lava đen, masato và perlite (30 g/bình kết hợp 30 mL môi trường lỏng MS bổ sung 1 mg/L IBA). Sau 42 ngày, perlite cho tỷ lệ ra rễ 93%, tương đương agar, đồng thời đạt chiều dài rễ lớn hơn (8,45 cm). Nhìn chung, perlite có tiềm năng thay thế agar trong giai đoạn tạo rễ in vitro cúc cổ Sơn La, góp phần nâng cao chất lượng cây con phục vụ sản xuất.

Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng của năm giống cải Kale (Brassica oleracea var. acephala) trồng trên giá thể xơ dừa trong nhà màng

Phan Ngọc Nhí, Dương Thị Minh Hiếu, Phạm Thị Mỹ Linh, Nguyễn Thị Hồng Thắm, Huỳnh Bá Di, Nguyễn Thái Phương Anh, Phan Thị Cẩm Ướt & Võ Thị Bích Thủy
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.1.05.2026
Tóm tắt | PDF (355.1K)

Tóm tắt

Nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng, năng suất và chất lượng của năm giống cải Kale trồng trên giá thể xơ dừa trong điều kiện nhà màng tại Đại học Cần Thơ. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức là 5 giống cải Kale: (1) Rong biển xanh, (2) Rong biển tím, (3) Xoăn xanh, (4) Xoăn tím và (5) Xoăn xanh Việt, mỗi nghiệm thức có 6 lần lặp lại. Kết quả cho thấy các giống cải Kale có sự khác biệt rõ về sinh trưởng, năng suất và chất lượng. Giống Xoăn xanh vượt trội với chiều dài lá 25 cm, đường kính gốc 14,7 mm, khối lượng trung bình lá 11,2 g/lá, tổng khối lượng lá 819 g/cây và hàm lượng vitamin C đạt 39 mg/100 g. Giống Rong biển xanh có số lá cao nhất (84 lá/cây) và chiều rộng lá lớn nhất (15,6 cm) nhưng hàm lượng vitamin C thấp nhất (26 mg/100 g). Trong khi đó, giống Xoăn tím cho năng suất thấp nhất với 45,7 lá/cây và tổng khối lượng lá chỉ đạt 443 g/cây. Giống Xoăn xanh cho thấy sự phù hợp trong điều kiện nhà màng nhờ đặc điểm sinh trưởng tốt, năng suất cao và chất lượng vượt trội so với các giống còn lại, có thể khuyến cáo đưa vào sản xuất thương mại.

Cấu trúc rừng và đa dạng loài cây gỗ ở rừng tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo tại xã Ninh Điền, Hòa Hội và Phước Vinh, tỉnh Tây Ninh

Nguyễn Minh Cảnh, Nguyễn Thị Mỹ Vân, Phạm Anh Dũng, Nguyễn Thị Minh Hải, Công Trường Vũ & Ka Minh Khôi
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.2.05.2026
Tóm tắt | PDF (779.9K)

Tóm tắt

Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo là một hợp phần quan trọng của hệ sinh thái rừng nhiệt đới, có vai trò duy trì đa dạng sinh học và tạo nền tảng cho phục hồi rừng bền vững. Nghiên cứu này nhằm đánh giá cấu trúc quần thụ, đặc điểm tái sinh tự nhiên và mức độ đa dạng loài cây gỗ của rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo tại các xã Ninh Điền, Hòa Hội và Phước Vinh, tỉnh Tây Ninh, làm cơ sở cho quản lý và phục hồi rừng. Kết quả ghi nhận 47 loài cây gỗ thuộc 24 họ, trong đó họ Dầu (Dipterocarpaceae) giữ vai trò ưu thế; các họ Đậu, Bồ hòn, Cám và Bông tham gia đáng kể trong cấu trúc quần xã. Năm loài có ý nghĩa sinh thái gồm Làu táu, Săng đá, Trường chua, Cám và Dầu mít. Mật độ bình quân đạt 516 cây/ha, trữ lượng 84,5 m³/ ha. Phân bố đường kính có dạng một đỉnh lệch trái theo hàm Weibull, trong khi phân bố chiều cao tuân theo hàm phân bố chuẩn, phản ánh trạng thái rừng phục hồi trung gian sau tác động với cấu trúc còn đơn giản. Tầng cây tái sinh đạt mật độ 4.288 cây/ha, chủ yếu tái sinh từ hạt, với sự tham gia mạnh của các loài bản địa. Các chỉ số Shannon và Pielou cho thấy sự cân bằng tốt giữa các nhóm loài và không có hiện tượng ưu thế tuyệt đối. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, làm giàu rừng bằng loài bản địa và theo dõi động thái rừng, góp phần phục hồi và quản lý bền vững rừng tại khu vực nghiên cứu.

Một số đặc điểm sinh trưởng và sinh học sinh sản của cá lia thia đồng (Betta sp.) ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An

Lê Thế Lương, Đinh Thế Nhân, Bùi Văn Tín, Lê Thế Thắng, Dương Văn Tuấn & Nguyễn Văn Dũng
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.4.05.2026
Tóm tắt | PDF (574.8K)

Tóm tắt

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định một số đặc điểm sinh trưởng, tính ăn và sinh học sinh sản của quần thể cá lia thia đồng (Betta sp.) phân bố tự nhiên tại huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Nghiên cứu được tiến hành trong 04 tháng (tháng 8 - 9 năm 2024 đại diện mùa mưa và tháng 3 - 4 năm 2025 đại diện mùa khô), với tần suất thu mẫu 1 tháng/lần. Kết quả cho thấy cá lia thia đồng có phân bố ở tất cả các xã trên địa bàn huyện Đức Huệ, tỉnh Long An, trừ thị trấn Đông Thành do quá trình đô thị hóa. Phân tích tương quan giữa chiều dài và khối lượng cho kết quả W = 0,018L2,587, mối tương quan thuận rất chặt chẽ với hệ số tương quan R2 = 0,878. Hệ số b=2,587 nhỏ hơn 3, chỉ ra sự sinh trưởng dị hình âm tính, ưu tiên tăng trưởng về chiều dài hơn khối lượng. Chỉ số tương quan chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG) trung bình là 0,42 ± 0,01, xác nhận cá lia thia đồng là loài ăn động vật. Phân tích độ no cho thấy cường độ bắt mồi tích cực, với 80 - 92% mẫu cá đạt bậc độ no ≥ 2, và cường độ bắt mồi cao hơn có ý nghĩa thống kê vào mùa mưa (χ2 = 28,293, P = 0,005). Chỉ số thành thục sinh dục (GSI) có xu hướng cao hơn vào mùa mưa (cá cái: 6,41 - 7,00%; cá đực: 5,04 - 5,06%), cho thấy mức độ thành thục sinh dục tăng trong giai đoạn này. Sức sinh sản tuyệt đối (AFe) trung bình là 255 ± 29 trứng/cá cái và sức sinh sản tương đối (RFe) là 531 ± 56 trứng/g cá cái. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu sinh học cơ bản quan trọng, làm cơ sở cho các đề xuất quản lý và bảo tồn nguồn lợi cá lia thia đồng tại địa phương.

Ảnh hưởng của rơm lúa được xử lý kiềm trong khẩu phần của bò lên sự sản sinh khí methane trong ống nghiệm

Nguyễn Quốc Tiến, Lê Thụy Bình Phương, Dương Nguyên Khang & Nguyễn Thanh Hải
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.6.05.2026
Tóm tắt | PDF (356.9K)

Tóm tắt

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của rơm lúa xử lý kiềm (kết hợp urê và vôi sống) trong khẩu phần ăn hằng ngày nuôi bò đến khả năng giảm sinh khí mê-tan in vitro tại Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên một yếu tố là phương pháp xử lý rơm lúa, gồm (1) nghiệm thức đối chứng là khẩu phần cơ bản đang áp dụng tại trại có rơm chưa xử lý (ĐCRKU) và (2) thí nghiệm là khẩu phần cơ bản tại trại và thay thế rơm chưa xử lý bằng rơm ủ kiềm (TNRU). Kết quả cho thấy rằng ủ kiềm đã cải thiện giá trị dinh dưỡng (CP, NDF, ADF, GE, DE và ME) của rơm lúa. Tổng thể tích các loại khí sinh ra từ lô ĐCRKU lúc 12 (215,50 mL/bình ủ) và 24 giờ (415,00 mL/bình ủ) cao hơn đáng kể so với TNRU (tương ứng 171,33 và 370,83 mL/bình ủ) (P < 0,001). Thể tích khí mê-tan sinh ra lúc 12 và 24 giờ ở lô ĐCRKU (23,70 và 56,02 mL/bình ủ) cao hơn đáng kể so với TNRU (16,28 và 41,46 mL/bình ủ) (P < 0,001). Tỷ lệ và thể tích khí mê-tan sinh ra trên g thực liệu lúc 12 và 24 giờ cũng thấp hơn đáng kể ở lô TNRU (P < 0,001). Nhìn chung, kiềm hóa rơm lúa trong khẩu phần ăn nuôi bò là một hướng đi tiềm năng nhằm cải thiện giá trị dinh dưỡng và tỷ lệ tiêu hóa của rơm, cũng như làm giảm phát thải khí mê-tan trong chăn nuôi bò, góp phần phát triển chăn nuôi bền vững ở vùng nhiệt đới.

Ảnh hưởng của việc bổ sung kháng sinh và thảo dược vào thức ăn đến khả năng sinh trưởng của vịt Anh Đào

Bùi Thị Kim Phụng, Cao Phước Uyên Trân, Trần Thị Diễm Chi, Lê Thành Tài & Chế Minh Tùng
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.7.05.2026
Tóm tắt | PDF (261.2K)

Tóm tắt

Để đánh giá hiệu quả việc bổ sung nhóm kháng Sinh (KS) hiện dùng tại trại và chế phẩm Thảo Mộc Việt (TMV) vào thức ăn ảnh hưởng lên sinh trưởng của vịt Anh Đào, khảo sát được thực hiện với 1.200 vịt 1 ngày tuổi, phân ngẫu nhiên với tỷ lệ trống mái như nhau vào 4 nghiệm thức, với 2 yếu tố KS và TMV (NT1: Không KS + 0 g TMV; NT2: Không KS + 3 g TMV/kg thức ăn; NT3: Có KS + 0 g TMV; NT4: Có KS + 3 g TMV/kg thức ăn), vịt nuôi đến 35 ngày tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của vịt ở các nghiệm thức khá tốt (> 97%). Khối lượng sống (KLS) của vịt theo tuần ở các NT2, 3 và 4 là tốt hơn so với NT1 (P < 0,001). Vịt ở NT3 và NT4 cũng có KLS cao hơn vịt ở NT2 (P < 0,05). Ngoài ra, có sự tương tác khi dùng KS và TMV lên KLS của vịt (P < 0,001). Lượng thức ăn và tăng KL vịt ở các nghiệm thức 2, 3, 4 đều cao hơn NT1, thể hiện rõ từ tuần thứ 3, 4, 5 (P < 0,05). Về hệ số chuyển hóa thức ăn, không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức (P > 0,05). Ở 35 ngày tuổi, KS, TMV hay sự tương tác của chúng đã không ảnh hưởng đến tỷ lệ đồng đều của đàn giữa các nghiệm thức (P > 0,05). Tóm lại, việc bổ sung KS và TMV riêng lẻ hay kết hợp đã có những ảnh hưởng tích cực lên lượng thức ăn tiêu thụ, tốc độ sinh trưởng và khối lượng sống của vịt Anh Đào.

Ứng dụng QGIS trong xây dựng bản đồ dịch tễ và đánh giá diễn biến bệnh viêm da nổi cục trên trâu bò tại Quảng Bình giai đoạn 2021 - 2024

Phạm Hoàng Sơn Hưng, Đỗ Thị Hồng Lê & Phạm Hồng Kỳ
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.9.05.2026
Tóm tắt | PDF (1.2M)

Tóm tắt

Viêm da nổi cục (VDNC) là một bệnh truyền nhiễm quan trọng ảnh hưởng đến trâu, bò, gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi. Nghiên cứu này phân tích diễn biến dịch VDNC tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021 - 2024 bằng cách sử dụng dữ liệu dịch tễ và công nghệ GIS (Geographic Information System) để đánh giá sự phân bố dịch bệnh. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng Microsoft Excel 2019, phân tích thống kê mô tả bằng SPSS (IBM, 2020), và trực quan hóa bằng QGIS nhằm xác định các khu vực có nguy cơ cao. Kết quả cho thấy dịch VDNC có sự khác biệt giữa các huyện, với Quảng Trạch, Quảng Ninh và Tuyên Hóa là các khu vực có nguy cơ cao nhất do mật độ chăn nuôi lớn. Huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh giảm dần từ năm 2021 đến 2024 nhờ vào các biện pháp kiểm soát hiệu quả như tiêm phòng vaccine và quản lý dịch bệnh chặt chẽ. Trong khi đó, một số địa điểm khác như Bố Trạch, Lệ Thủy và Đồng Hới cũng ghi nhận ca bệnh nhưng không thuộc vùng nguy cơ cao. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng QGIS để theo dõi dịch bệnh, hỗ trợ các cơ quan chức năng đưa ra biện pháp kiểm soát phù hợp. Việc xây dựng bản đồ nguy cơ dựa trên mật độ đàn gia súc và dữ liệu dịch tễ giúp nâng cao hiệu quả phòng chống dịch VDNC trong tương lai.

Thông số di truyền tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ sống của hàu sữa (Crassostrea angulata) chọn giống trong điều kiện nhiệt đới gió mùa ở Long Sơn, Vũng Tàu

Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Thị Mai Anh, Nguyễn Thảo Sương, Nguyễn Như Trí & Nguyễn Văn Sáng
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.8.05.2026
Tóm tắt | PDF (236.1K)

Tóm tắt

Nghiên cứu này nhằm ước tính các thông số di truyền cho tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ sống của hàu sữa (Crassostrea angulata) chọn giống thế hệ G1 nuôi trong điều kiện nhiệt đới gió mùa tại Long Sơn, Vũng Tàu. Tổng cộng 8.000 con từ 80 gia đình (44 gia đình cùng cha cùng mẹ và 36 gia đình cùng cha khác mẹ) được nuôi đánh giá sinh trưởng trong 183 - 207 ngày. Các thông số di truyền được ước tính bằng mô hình tuyến tính cá thể hỗn hợp sử dụng phần mềm ASReml 4.2. Hệ số di truyền ở mức trung bình đến cao cho các tính trạng sinh trưởng (0,183 - 0,607) và trung bình cho tỷ lệ sống (0,276). Tương quan di truyền dương cao (0,70 - 0,91) giữa các tính trạng sinh trưởng (khối lượng thân, chiều cao vỏ, chiều dài vỏ và chiều rộng vỏ) và nghịch thấp (-0,11 đến -0,09; P > 0,05) giữa các tính trạng sinh trưởng với tỷ lệ sống. Giá trị chọn giống ước tính trung bình của nhóm chọn lọc là 10,36 g cho khối lượng thân, với hiệu quả chọn lọc đạt 19,83% cho khối lượng thân và 35,27% cho tỷ lệ sống khi chọn lọc riêng rẽ được áp dụng cho từng tính trạng. Kết quả này khẳng định tiềm năng cải thiện di truyền rõ rệt các tính trạng của hàu sữa trong điều kiện nhiệt đới gió mùa. Nghiên cứu cũng đề xuất mở rộng đánh giá sinh trưởng tại nhiều môi trường nuôi khác ở Nam Bộ để ước tính tương tác kiểu gen × môi trường, hướng đến xây dựng chương trình chọn giống hàu sữa bền vững trong tương lai.

Đánh giá sinh trưởng, tỉ lệ sống và khả năng kháng bệnh giai đoạn 60 ngày tuổi của dòng cá tra chọn lọc tăng trưởng nhanh và kháng bệnh gan thận mủ

Hà Thị Ngọc Nga, Trần Hữu Phúc, Nguyễn Huỳnh Duy, Huỳnh Thị Bích Liên & Dương Thúy Yên
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.5.05.2026
Tóm tắt | PDF (229.9K)

Tóm tắt

Nghiên cứu này đánh giá tăng trưởng, tỷ lệ sống và mức độ nhiễm các bệnh thường gặp của hai dòng cá tra từ chương trình chọn giống tăng trưởng nhanh (G4-TT) và dòng chọn giống kháng bệnh gan thận mủ (G1-KB) so với dòng cá thương mại (đối chứng). Ba dòng cá được thả chung trong cùng bể ximăng 15 m3 được phân cách bởi các vách ngăn vải, lặp lại ba lần tương ứng 3 bể. Sau 60 ngày ương, tăng trưởng về khối lượng, chiều dài và tỉ lệ sống của ba dòng cá khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05), trong đó dòng cá tăng trưởng G4-TT đạt cao nhất (tương ứng 5,34 g; 89,8 mm; 43,6%), tiếp theo là dòng kháng bệnh G1-KB (4,0 g; 83,2 mm và 37,3%) và thấp nhất là dòng đối chứng (2,89 g; 75,7 mm, 18,4%). Cá ba dòng cá đều nhiễm ký sinh trùng Trichodina spp. và vi khuẩn Aeromonas spp. được ghi nhận ở mức độ nhẹ, không gây biểu hiện bệnh lý rõ ràng. Kết quả cho thấy ở giai đoạn cá bột đến 60 ngày tuổi, hai dòng cá chọn lọc đều có tốc độ tăng trưởng và tỉ lệ sống cao hơn so với dòng thương mại. Cá tra giống đã qua chọn lọc thể hiện chất lượng và ảnh hưởng tốt đến hiệu quả ương nuôi.

Chế tạo hạt nano bạc từ vỏ măng cụt (Garcinia mangostana) có hoạt tính khử p-nitrophenol trong nước và kháng khuẩn cao

Lê Thị Thanh Vân, Trương Đình Phú & Lê Thị Như Quyên
Bản điện tử: 02 Nov 2026 | DOI: 10.52997/jad.10.05.2026
Tóm tắt | PDF (1M)

Tóm tắt

Nghiên cứu này trình bày một quy trình xanh và bền vững để tổng hợp nano bạc (AgNPs) bằng cách sử dụng dịch chiết vỏ măng cụt, đóng vai trò vừa là tác nhân khử vừa là tác nhân ổn định. Quá trình tổng hợp được tối ưu hóa bằng cách khảo sát các thông số chính, bao gồm nhiệt độ, thời gian phản ứng, nồng độ AgNO₃ và tỷ lệ dung dịch Ag+ trên dịch chiết. Sự hình thành các hạt AgNPs được xác nhận bằng quang phổ UV-Vis, trong khi các phân tích XRD (giản đồ nhiễu xạ tia X), HR-TEM (kính hiển vi điện tử truyền qua độ phân giải cao) và SAED (nhiễu xạ điện tử vùng chọn lọc) cho thấy các hạt nano có dạng hình cầu, phân tán tốt, cấu trúc tinh thể lập phương tâm diện với kích thước trung bình là 16,2 ± 4,3 nm. Các hạt AgNPs thể hiện hoạt tính xúc tác đặc biệt trong phản ứng khử p-nitrophenol (PNP) bằng natri borohydride (NaBH₄), đạt hiệu suất chuyển đổi > 95% chỉ trong vòng 2 phút. Phản ứng xúc tác này tuân theo phương trình động học bậc một với hằng số tốc độ phản ứng (k = 0,815/phút). Đồng thời, các hạt AgNPs thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh đối với Escherichia coli và Salmonella typhi, được chứng minh bằng vùng ức chế khoảng 15 mm, nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) là 3,04 mg/L và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) là 6,08 mg/L. Những phát hiện này không chỉ làm nổi bật tiềm năng của dịch chiết thực vật trong tổng hợp xanh AgNPs mà còn nhấn mạnh ứng dụng đầy hứa hẹn của vật liệu nano này trong lĩnh vực xử lý môi trường và y sinh.