Ngày xuất bản: 2026-04-25
Số báo đầy đủ
Nông học, Lâm Nghiệp
Ảnh hưởng của axit α-naphthaleneacetic (NAA) và giá thể đến sinh trưởng và tỉ lệ xuất vườn cây giống Thiên niên kiện Homalomena occulta (Lour.) Schott
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.2.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (586.8K)
Tóm tắt
Thiên niên kiện (Homalomena occulta) thuộc họ Ráy (Araceae) là loài dược liệu có giá trị cao, được ứng dụng rộng rãi trong y học cổ truyền. Cây giống được nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom sẽ mang lại nhiều ưu điểm, bao gồm duy trì chất lượng giống và bảo tồn đặc tính di truyền của cây mẹ. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định nồng độ xử lý thích hợp của axit α-naphthaleneacetic (NAA), thời gian xử lý tối ưu và công thức giá thể phù hợp để nâng cao khả năng sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn của cây thiên niên kiện trong giai đoạn vườn ươm. Kết quả cho thấy, xử lý hom với NAA ở nồng độ 150 ppm trong 60 giây cho hiệu quả cao nhất đạt 20,1 rễ và chiều dài rễ 27,7 cm. Công thức giá thể gồm 25% đất Tribat, 50% cát và 25% mụn dừa được xác định là phù hợp nhất cho giai đoạn vườn ươm, với tỷ lệ hom sống đạt 85,8%, chiều cao chồi 27,7 cm, số lá trung bình 3,9 lá, đường kính thân 14,4 mm, tỷ lệ xuất vườn 99,4% và hệ số chất lượng Dickson đạt 1,8. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc tối ưu hóa quy trình nhân giống và ươm cây thiên niên kiện phục vụ sản xuất quy mô lớn.
Ảnh hưởng của tuổi cây con và số lá trên thân chính đến sinh trưởng và năng suất giống dưa vàng Kim Hoàng Hậu trồng trong nhà màng
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.1.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (148.4K)
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định tuổi cây con và số lá trên thân chính phù hợp cho cây dưa vàng Kim Hoàng Hậu trồng trong nhà màng đạt sinh trưởng tốt và năng suất cao. Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô chính-lô phụ, 3 lần lặp lại, gồm 2 yếu tố: tuổi cây con khi trồng (T), gồm: cây chưa có lá thật (T1), có 1 lá thật (T2) và có 2 lá thật (T3); yếu tố để số lá trên thân chính (L), gồm: để 24 lá (L1), 28 lá (L2) và 32 lá (L3). Kết quả nghiên cứu cho thấy công thức trồng khi cây chưa có lá thật và để 32 lá trên thân chính thì thời gian từ trồng đến bấm ngọn và quả chín là dài nhất lần lượt là 47 và 80 ngày ở vụ xuân hè, ở vụ hè thu là 44 và 74 ngày. Công thức trồng khi cây có 1 lá thật và để 28 lá (T2L2) có năng suất và độ brix cao nhất lần lượt đạt 37,8 tấn/ha và độ brix 12% ở vụ xuân hè, vụ hè thu đạt 36,2 tấn/ha và độ brix 11,6%.
Chăn nuôi, thú y và thủy sản
Tổng quan ứng dụng vi tảo (Chlorophyta) trong quá trình khử mặn nước ở hệ thống nuôi cấy mở
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.3.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (586.8K)
Tóm tắt
Quá trình xâm nhập mặn đã trở thành một thách thức toàn cầu khi gây nhiều tác động tiêu cực lên hệ sinh thái, suy giảm nguồn nước ngọt, ảnh hưởng đến sức khỏe và kìm hãm sự phát triển của nông nghiệp. Trước thực trạng này, việc nghiên cứu các giải pháp khử mặn hiệu quả là yêu cầu cấp bách hiện nay. Trong số các phương pháp đang được phát triển, khử mặn bằng vi tảo đang nhận được nhiều sự quan tâm nhờ hiệu quả cao, chi phí thấp và có tính bền vững với môi trường. Nghiên cứu này tổng hợp các cơ chế, yếu tố ảnh hưởng và ứng dụng thực tiễn của vi tảo (Chlorophyta) trong quá trình khử mặn. Vi tảo khử mặn bằng hai cơ chế chính là hấp thụ sinh học và tích lũy sinh học, trong đó hiệu suất xử lý phụ thuộc các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, ánh sáng. Vi tảo có thể được nuôi cấy ở các hệ thống quang học khác nhau, trong đó hệ thống nuôi cấy mở được đánh giá cao nhờ khả năng mở rộng quy mô, giảm thiểu chi phí vận hành và tận dụng năng lượng mặt trời. Công nghệ sử dụng vi tảo khử mặn giúp góp phần giải quyết vấn đề về môi trường, bảo vệ cân bằng sinh thái và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá chép Koi (Cyprinus carpio haematopterus) giai đoạn từ 1 đến 20 ngày tuổi
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.4.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (645.4K)
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm ra loại thức ăn phù hợp trong ương cá chép Koi giai đoạn từ 1 đến 20 ngày tuổi. Ba loại thức ăn được thử nghiệm bao gồm Moina, trùn chỉ và thức ăn tổng hợp. Moina và trùn chỉ được sử dụng dưới dạng sinh khối tươi, thức ăn tổng hợp là loại cám tổng hợp dạng bột mịn và dạng mảnh có độ đạm 42% chuyên dùng cho cá. Có ba nghiệm thức (NT) thử nghiệm như sau: NT1: ngày 1 - 10 cho ăn Moina, ngày 11 - 15 cho ăn trùn chỉ, ngày 16 - 20 cho ăn thức ăn tổng hợp. NT2: ngày 1 - 5 cho ăn Moina, ngày thứ 6 - 10 cho ăn Moina + trùn chỉ (tỷ lệ 50:50), ngày 11 - 15 cho ăn trùn chỉ + thức ăn tổng hợp (tỷ lệ 50:50), ngày 16 - 20 cho ăn thức ăn tổng hợp và NT3: cho ăn thức ăn tổng hợp từ ngày 1 - 20. Mật độ ương là 5 cá bột/lít. Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần tại cùng một thời điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy thức ăn có ảnh hưởng rõ rệt đến tăng trưởng chiều dài, khối lượng và tỷ lệ sống của cá (P < 0,05). Nghiệm thức NT2 cho kết quả ương đạt tăng trưởng tốt nhất về chiều dài (24,03 ± 0,37 mm), khối lượng (414,25 ± 8,06 mg) và tỷ lệ sống (81,67 ± 0,33%). Nghiệm thức NT3 cho kết quả ương có mức tăng trưởng thấp nhất về chiều dài (7,52 ± 0,34 mm), khối lượng (75,18 ± 0,91 mg) và tỷ lệ sống (54,33 ± 2,73%). Nghiệm thức NT1 cho kết quả ương đạt tăng trưởng về chiều dài (20,52 ± 0,32 mm) và khối lượng (16,98 ± 0,33 mg) ở mức trung bình (P < 0,05). Tóm lại, kết quả này giúp cải thiện quy trình ương cá chép Koi, có thể ứng dụng trong sản xuất.
Công nghệ sinh học
Đánh giá đa dạng di truyền lan kiếm tiên vũ (Cymbidium finlaysonianum) dựa trên chỉ thị SSR
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.5.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (877.8K)
Tóm tắt
Lan kiếm tiên vũ (Cymbidium finlaysonianum) là một trong những loài lan kiếm bản địa Việt Nam, đa dạng về hình thái và màu sắc, có giá trị cao nhưng đang bị suy kiệt nguồn gen do sự khai thác quá mức. Nghiên cứu này đánh giá đa dạng di truyền 32 mẫu lan kiếm tiên vũ dựa trên chỉ thị sinh học phân tử SSR nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển giống. Kết quả cho thấy 12 primer SSR hiển thị tính đa hình cao với tần số alen đa hình trung bình là 0,22; số lượng alen trung bình 3,5 alen/primer, dao động từ 2 - 6 alen/primer. Bên cạnh đó, sự đa dạng di truyền cao giữa các mẫu lan kiếm cũng được ghi nhận qua hệ số đa hình (Polymorphic information content, PIC) là 0,79; dao động từ 0,58 đến 0,94. Kết quả phân tích mối quan hệ di truyền cho thấy các mẫu lan kiếm thu thập có khoảng cách đa dạng di truyền dao động từ 0,02 - 0,4 với giá trị trung bình là 0,17 và cây phân nhóm di truyền chia thành 06 nhóm chính, nhóm I (Ia, Ib) gồm 18 mẫu, nhóm Ic (04 mẫu), IIa (07 mẫu), IIb (02 mẫu) và III gồm 01 mẫu. Dữ liệu di truyền dựa trên chỉ thị SSR này hữu ích cho công tác lai tạo giống mới và bảo tồn nguồn gen lan kiếm tiên vũ nói riêng cũng như các loài thuộc chi Cymbidium nói chung.
Tuyển chọn các chủng vi khuẩn Bacillus bản địa có khả năng kích thích sinh trưởng thực vật và kiểm soát tuyến trùng bướu rễ Meloidogyne spp.
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.6.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (8.9M)
Tóm tắt
Với mục tiêu tìm kiếm các vi sinh vật bản địa có lợi để sản xuất thử nghiệm các chế phẩm sinh học trong phòng trừ tuyến trùng gây hại trên các loại rau, nghiên cứu này đã phân lập, tuyển chọn và xác định được 3 chủng vi khuẩn Bacillus bản địa có triển vọng trong việc kiểm soát tuyến trùng Meloidogyne spp. gây hại rễ và kích thích sinh trưởng (KTST) cây rau. Bằng phương pháp định danh hình thái, sinh hóa và giải trình tự vùng 16S rRNA đã xác định được 3 loài vi khuẩn Bacillus velezensis BHMT 4.1, B. amylolifequacien CCCX 2.2 và B. subtilis CCCX 2.1. Nghiên cứu đã khảo sát định tính một số đặc điểm KTST của vi khuẩn, kết quả, 3 chủng vi khuẩn đều có khả năng sinh IAA, hòa tan phosphate (với vòng phân giải đạt từ 1,57 - 2,0 mm) và tổng hợp siderophore (với hiệu số sinh siderophore đạt 3,33 - 6,33 mm). Hơn nữa, 3 chủng đều có khả năng gây chết đối với ấu trùng Meloidogyne spp. J2 và kiểm soát sự nở trứng của tuyến trùng Meloidogyne spp. Trong đó, chủng B. velezensis BHMT4.1 có khả năng gây chết ấu trùng Meloidogyne spp. J2 với tỉ lệ cao nhất 66,67% sau 48 giờ và kiểm soát tỉ lệ ức chế nở trứng tuyến trùng đạt 44% sau 7 ngày. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 3 chủng vi khuẩn Bacillus bản địa đã phân lập rất có tiềm năng ứng dụng trong kiểm soát tuyến trùng Meloidogyne spp. gây hại trên cây rau.
Môi trường và Tài nguyên
Dự báo biến động sử dụng đất tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên chuỗi Markov tích hợp GIS
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.7.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.4M)
Tóm tắt
Nghiên cứu ứng dụng mô hình chuỗi Markov kết hợp GIS để phân tích xu thế biến động sử dụng đất tại huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2020 và dự báo đến năm 2025, 2030. Sử dụng dữ liệu bản đồ hiện trạng các năm 2010, 2015 và 2020, nghiên cứu xây dựng ma trận xác suất chuyển đổi sử dụng đất nhằm mô phỏng xu hướng biến động tương lai. Kết quả cho thấy từ 2010 đến 2030, đất nông nghiệp và đất trồng cây lâu năm giảm, trong khi đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng đáng kể do đô thị hóa và công nghiệp hóa. Độ chính xác mô hình được kiểm định bằng cách so sánh dự báo năm 2020 với dữ liệu thực tế, với kết quả trung bình toàn bộ mô hình đạt sai số trung bình tuyệt đối (MAPE) 9,08% và sai số trung bình bình phương (RMSE) là 428,73 ha, cho thấy độ tin cậy cao. Dự báo đến năm 2030, đất ở tiếp tục tăng (+973,81 ha, +28,52%), trong khi đất trồng cây lâu năm giảm mạnh (-1.946,22 ha, -12,45%), chủ yếu chuyển đổi sang đất đô thị và công nghiệp, đặt ra thách thức trong cân bằng phát triển và bảo vệ tài nguyên đất. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, giúp định hướng chiến lược phát triển bền vững tại huyện Củ Chi.
Đánh giá thay đổi dài hạn của chế độ thủy văn tại một số lưu vực sông của Việt Nam
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.9.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.7M)
Tóm tắt
Sự gia tăng nhiệt độ và thay đổi về chế độ mưa tại Việt Nam do biến đổi khí hậu có khả năng dẫn đến những ảnh hưởng đáng kể đến chế độ dòng chảy tại các lưu vực sông cũng như tài nguyên nước quốc gia. Nghiên cứu này khảo sát sự thay đổi của chế độ thủy văn tại 11 trạm quan trắc thủy văn nước ngọt có dữ liệu quan trắc tốt (kéo dài 35 năm, từ năm 1987 đến 2022) trải dài khắp Việt Nam. Nghiên cứu đã áp dụng phép kiểm định thống kê Mann-Kendall và tính toán xu thế Sen cho ba chỉ số thủy văn (dòng chảy trung bình năm, dòng chảy cực đại năm và dòng chảy cực tiểu năm) tại các trạm quan trắc được lựa chọn. Kết quả đánh giá cho thấy, xu hướng giảm được quan sát phổ biến trong giai đoạn được khảo sát, với số liệu tại bốn trạm quan trắc (phân bổ tại các hệ thống sông khác nhau) cho thấy sự suy giảm trên cả ba chỉ số. Có hai lưu vực có xu hướng tăng ở cả ba chỉ số được đánh giá, nhưng hầu hết xu hướng là không đáng kể về mặt thống kê. Kết quả này cho thấy sự biến đổi phức tạp của chế độ thủy văn của lưu vực sông Việt Nam. Một số yếu tố quan trọng có thể điều chỉnh những xu hướng này là thay đổi sử dụng đất, tăng số lượng đập và hồ chứa nước cũng như quá trình đô thị hóa nhanh chóng (để hỗ trợ phát triển kinh tế quốc gia từ những năm 2000), những yếu tố cần được tiếp tục khảo sát trong các nghiên cứu tương lai.
Thực trạng và giải pháp cải thiện cảnh quan dưới cầu vượt ở Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.8.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.4M)
Tóm tắt
Cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị TP.HCM, hàng loạt cầu vượt đã hình thành nối giữa các quận rút ngắn thời gian di chuyển, hạn chế tình trạng kẹt xe vào giờ cao điểm. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2024 đến tháng 9/2024 với mục tiêu khảo sát là đánh giá hiện trạng dạ cầu về các hạng mục hạ tầng, thổ nhưỡng, ánh sáng, hiện trạng sử dụng và hiện trạng mảng xanh; từ đó, làm cơ sở để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dạ cầu. Nghiên cứu sử dụng phiếu điều tra trực tiếp tại toàn bộ 33 dạ cầu. Các tiêu chí khảo sát được quan sát, chụp ảnh và ghi nhận trực tiếp vào phiếu, sau đó được tổng hợp, phân tích và vẽ biểu đồ. Kết quả cho thấy hầu hết các dạ cầu đều có hệ thống cây xanh, hạ tầng đáp ứng công năng; tuy nhiên, đa số dạ cầu hiện nay đều bị lấn chiếm. Do đó, cần cải tạo nâng cao chất lượng dạ cầu bằng các giải pháp quy hoạch, thiết kế và quản lý để đáp ứng công năng.
Công nghệ thực phẩm
Ảnh hưởng của hàm lượng pectin đến khả năng thoát ẩm, cấu trúc và cảm quan của thịt quả cà phê sấy dẻo
Bản điện tử:
25 Apr 2026
| DOI:
10.52997/jad.10.02.2026
Tóm tắt
|
PDF (439.5K)
Tóm tắt
Thịt quả cà phê được biết đến là nguồn nguyên liệu giàu chất xơ và các hợp chất chống oxy hóa tự nhiên. Hiện nay các nghiên cứu mới chỉ khai thác được nguồn phụ phẩm này như phân bón, thức ăn chăn nuôi và các vật liệu mới, trong khi nghiên cứu trong ngành thực phẩm còn hạn chế. Mục tiêu của nghiên cứu này là chế biến sản phẩm trái cây sấy dẻo từ nguồn phụ phẩm này. Nghiên cứu cho thấy bổ sung pectin với tỷ lệ 2%, với tỷ lệ pha trộn của hai loại pectin là chế phẩm pectin thương mại có độ methoxyl cao (HMP) và có độ methoxyl thấp (LMP), ở nhiều tỷ lệ 1,5:0,5; 1:1 và 0,5:1,5 g/g đã có tác động đến đặc tính vật lý của sản phẩm. Tất cả các mẫu được bổ sung pectin đều có giá trị lực đứt cao hơn so với mẫu đối chứng. Ngoài ra, việc bổ sung pectin làm thay đổi nhỏ đến quá trình giảm ẩm của mẫu trong quá trình sấy. Độ khuếch tán ẩm giảm khi hàm lượng tăng lượng pectin. Tuy nhiên, sản phẩm có và không có bổ sung pectin đều có thời gian sấy, độ ẩm và hoạt độ nước tương tự nhau. Việc bổ sung pectin cho phép cải thiện sự chấp nhận của cảm quan viên đối với kết cấu của sản phẩm nhưng không ảnh hưởng đến đặc tính màu sắc, mùi và vị của sản phẩm. Để nâng cao hơn nữa khả năng cải thiện cấu trúc sản phẩm, cần tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bổ sung pectin (HMP và LMP).