Ngày xuất bản: 2026-02-25
Số báo đầy đủ
Nông học, Lâm Nghiệp
Ảnh hưởng của chất kích thích sinh học đến sinh trưởng và năng suất của cây ngô (Zea mays L.) trong điều kiện hạn nhân tạo
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.3.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (553.2K)
Tóm tắt
Nghiên cứu làm rõ hiệu quả của chất kích thích sinh học trong việc cải thiện khả năng hấp thụ nước và dinh dưỡng của cây ngô trong điều kiện khô hạn. Thí nghiệm được tiến hành trong nhà màng tại Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM nhằm xác định loại chất kích thích sinh học phun qua lá giúp cây ngô sinh trưởng, phát triển tốt và đạt năng suất cao trong điều kiện đủ nước và khô hạn. Thí nghiệm 2 yếu tố gồm 10 nghiệm thức, được bố trí theo kiểu lô phụ, với 3 lần lặp lại. Yếu tố lô chính gồm 35 và 90% ẩm độ, yếu tố lô phụ gồm bốn chất kích thích sinh học Agroptim (2 L/ha), C-Weed 50 (1 L/ha), Elevate (2 L/ha), Proplex (1 L/ha) và nước (đối chứng). Kết quả cho thấy các chất kích thích sinh học tác động rõ rệt đến chiều cao, diện tích lá, chỉ số diện tích lá và sinh khối của cây ngô trong điều kiện khô hạn, nhưng không ảnh hưởng đáng kể khi cây được tưới đủ nước. Năng suất thực thu của cây ngô có phun chất kích thích sinh học dao động từ 383,6 đến 557,1 kg/1.000 m2 ở điều kiện 35% ẩm độ, cao hơn từ 33,8 đến 207,3 kg so với đối chứng và từ 769,3 đến 903,1 kg/1.000 m2 ở điều kiện 90% ẩm độ, vượt đối chứng từ 43,4 đến 117,2 kg. Việc phun chất kích thích sinh học Proplex và Agroptim trên cây ngô cho kết quả sinh trưởng cao hơn, dẫn đến khối lượng bắp tươi (138,17 và 153,15 g/bắp); năng suất thực thu (704,28 và 800,95 kg/1.000 m2) cao hơn so với phun Elevate và C-Weed 50.
Đánh giá khả năng phân hủy thân và lá khóm của nấm Trichoderma spp.
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.1.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (277.3K)
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ vật liệu và độ ẩm phù hợp để sản xuất phân hữu cơ từ thân, lá khóm bằng Trichoderma spp. (TC). Thí nghiệm 2 nhân tố được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, nhân tố (A) là bổ sung nấm Trichoderma spp. phân hủy cellulose gồm (i) Không bổ sung, (ii) Tricho-ĐHCT, (iii) TC1, (iv) TC2, (v) TC3 và (vi) hỗn hợp 3 dòng TC1, TC2, TC3, nhân tố (B) là ẩm độ gồm: (i) 50%, (ii) 60% và (iii) 70%. Thí nghiệm được thực hiện trên 3 tỷ lệ vật liệu khác nhau (khóm:bã bùn mía:phân bò, với tỷ lệ 7:1,5:1,5 (KBB7); 8:1:1 (KBB8); 9:0,5:0,5 (KBB9)). Kết quả cho thấy vật liệu ủ KBB7 và KBB8 có hàm lượng P tổng số của nghiệm thức bổ sung hỗn hợp 3 dòng nấm Trichoderma spp. TC1, TC2 và TC3 cao hơn các nghiệm thức bổ sung dòng đơn Trichoderma spp. TC1, TC2, TC3, với 0,574 so với 0,389 - 0,463%; 0,507 so với 0,351 - 0,380%, và 0,422 so với 0,303 - 0,427% theo thứ tự. Tương tự, tỷ lệ C/N ở cả 3 tỷ lệ vật liệu KBB7, KBB8 và KBB9 nghiệm thức đối chứng có tỷ lệ C/N cao hơn nghiệm thức có bổ sung nấm Trichoderma spp. và nghiệm thức bổ sung Tricho-ĐHCT, lần lượt là 43,8 so với 28,3 - 35,1, 47,8 so với 31,6 - 35,2 và 54,8 so với 34,2 - 37,1. Hàm lượng C tổng số cũng cho kết quả tương tự. Tỷ lệ vật liệu 7:1,5:1,5 (KBB7) ở ẩm độ 50 - 60% phù hợp cho ủ phân hữu cơ.
Ảnh hưởng của bột vỏ trứng và phân kali đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống dưa vàng Kim Hoàng Hậu được trồng trong nhà màng
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.2.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (155K)
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm xác định lượng bón bột vỏ trứng và lượng kali phù hợp cho giống dưa vàng Kim Hoàng Hậu được trồng trong nhà màng tại huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Thí nghiệm thiết kế hoàn toàn ngẫu nhiên, có 3 lần lặp lại, thí nghiệm bón bột vỏ trứng ở các mức E0: không bón, E1: 100 kg/ha, E2: 200 kg/ha, và E3: 300 kg/ha; kết hợp bón phân kali (K2O) ở các mức K0: 130 kg K2O/ha, K1: 140 kg K2O/ha, K2: 150 kg K2O/ha, K3: 160 kg K2O/ha, nền bón phân cho 1 ha gồm 15 tấn phân chuồng, 200 kg vôi bột, 40 kg vi lượng hỗn hợp, 30 kg MgSO4, 130 kg N, và 130 kg P2O5. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cây dưa từ trồng đến 42 ngày chưa bón kali bổ sung nên chỉ ảnh hưởng bởi bột vỏ trứng, ở mức bón 300 kg/ha bột vỏ trứng cây dưa có thời gian ra hoa cái sớm nhất 21 ngày, ra lá nhanh đạt 28 lá ở ngày bấm ngọn 42 ngày. Công thức bón 200 kg/ha bột vỏ trứng và 150 kg K2O/ha thì không xuất hiện nứt quả, độ dày vỏ quả dày, cho năng suất cao nhất đạt 35,5 tấn/ha, độ brix đạt 13,5%, và lãi thuần cao nhất 613,93 triệu đồng. Công thức không bón bột vỏ trứng và không bổ sung kali có tỉ lệ quả nứt cao 5% và độ dày vỏ quả mỏng ở điểm 7.
Chăn nuôi, thú y và thủy sản
Nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất phân nền trồng cây thủy sinh từ mùn cưa sau trồng nấm
Bản điện tử:
16 Mar 2026
| DOI:
10.52997/jad.5.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (975.4K)
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng quy trình sản xuất phân nền trồng cây thủy sinh từ mùn cưa sau trồng nấm. Nghiên cứu gồm hai thí nghiệm chính: Sản xuất phân nền từ mùn cưa sau trồng nấm (TN1) và đánh giá ảnh hưởng của phân nền thu được đến sinh trưởng và phát triển của cây thanh hồng điệp và cá neon (TN2). Kết quả nghiên cứu ở TN1 cho thấy công thức ủ bao gồm 60% mùn cưa sau trồng nấm và 40% phân gà cho các chỉ tiêu đạt chất lượng tốt nhất gồm carbon hữu cơ tổng 9,63%, Nitơ tổng số 0,66%, P2O5 hữu hiệu 1,06% và K2O hữu hiệu 752 mg/kg. Sản phẩm ủ thu được thử nghiệm phối trộn với 3 loại phụ gia và 3 tỷ lệ phối trộn khác nhau, kết quả chọn được 3 công thức gồm: phân nền A (95% mùn cưa sau ủ và 5% bột Kaolin), B (90% mùn cưa sau ủ và 10% bột Kaolin) và C (85% mùn cưa sau ủ và 15% bột Kaolin) đạt chỉ tiêu về chất lượng nước, có độ phân rã chậm để làm nguyên liệu cho TN2 thực nghiệm trồng cây và nuôi cá. Sau thí nghiệm, phân nền C được đánh giá đạt tiêu chí về chất lượng nước trồng cây thủy sinh và nuôi cá (như pH, NH4+/NH3 và NO2), phù hợp cho sự sinh trưởng của cây thanh hồng điệp và tỷ lệ sống của cá neon.
Sự hiện diện của vi khuẩn Anaplasma spp. trong máu mèo và ghi nhận hiệu quả điều trị tại VSA Pet Clinic, Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.4.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (283.1K)
Tóm tắt
Mục tiêu của đề tài là khảo sát sự hiện diện của phôi dâu Anaplasma spp. trong máu mèo và ghi nhận hiệu quả điều trị. Mẫu máu của mèo có biểu hiện lâm sàng nghi ngờ nhiễm khuẩn đường máu được kiểm tra dưới kính hiển vi quang học để tìm phôi dâu Anaplasma spp. ký sinh trong bạch cầu và tiểu cầu. Kết quả soi phết tế bào máu cho thấy có 26/243 mèo nhiễm Anaplasma spp., chiếm 10,7% trên tổng số ca có biểu hiện lâm sàng. Dấu hiệu lâm sàng phổ biến trên mèo nhiễm Anaplasma spp. bao gồm niêm mạc nhợt nhạt (69,23%), ủ rũ, lờ đờ (57,59%), chán ăn, bỏ ăn (42,31%), sụt cân và sốt (30,77%). Nguy cơ nhiễm Anaplasma spp. ở mèo không phụ thuộc vào giống, giới tính và phương thức nuôi. Tuy nhiên, tỷ lệ mèo nhiễm Anaplasma spp. phụ thuộc vào lứa tuổi, mèo trên 1 năm đến 4 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (12,5%), khả năng do mèo tiếp xúc nhiều với môi trường có bọ ve mang mầm bệnh trong thời gian động dục. Hiệu quả điều trị khỏi bệnh Anaplasma spp. trên mèo đạt 69,23% trong thời gian 28 ngày, tỷ lệ thuyên giảm là 19,23%, và không khỏi bệnh là 11,54%. Khả năng chữa khỏi càng cao nếu bệnh được phát hiện sớm, can thiệp kịp thời cùng với việc điều trị đúng liệu trình và chăm sóc tốt cho mèo sẽ nâng cao hiệu quả điều trị.
Công nghệ sinh học
Thực trạng nhiễm khuẩn và phát hiện một số gen (blaTEM, blaCTX, blaSHV) mã hóa sinh ESBL của Escherichia coli phân lập từ thịt gà đông lạnh nhập khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.6.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (1M)
Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá thực trạng nhiễm, đồng thời phát hiện một số gen mã hoá β-lactamase phổ rộng (ESBL) của E. coli phân lập từ các mẫu thịt gà đông lạnh có nguồn gốc nhập khẩu, được thu thập tại Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả khảo sát ghi nhận có 98/225 mẫu nhiễm E. coli, chiếm tỷ lệ 43,56%. Trong số 03 loại kháng sinh đại diện nhóm β-lactam được lựa chọn đánh giá thì không có loại nào hoàn toàn nhạy với các chủng E. coli thử nghiệm. Trong đó, 6/98 chủng (6,12%) cùng kháng amoxicillin/axit clavulanic (AMC), ampicillin (AM) và 20/98 chủng (20,41%) kháng ceftazidim (CAZ). Kết quả khảo sát gen mã hóa sinh ESBL thì nhóm blaTEM chiếm ưu thế với tỷ lệ 50,0% (10/20 chủng), nhóm blaCTX có tỷ lệ 10,0% (02/20 chủng), chỉ có 01 chủng có kiểu hình kháng cả 03 loại kháng sinh thử nghiệm mang cả hai gen blaTEM/CTX. Không phát hiện trường hợp nào mang các gen thuộc nhóm blaSHV. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu về mối nguy E. coli có khả năng sinh ESBL kháng kháng sinh nhóm β-lactam ở mức cao và báo động đối với các sản phẩm thịt gà đông lạnh có nguồn gốc nhập khẩu. Do vậy, việc thiết lập và duy trì các chương trình giám sát an toàn cho các sản phẩm nhập khẩu là hết sức cần thiết và cấp bách.
Hiệu quả của hệ nhũ tương nano từ chitosan và tinh dầu tràm trong kiểm soát vi nấm gây bệnh sau thu hoạch và kéo dài thời hạn sử dụng chuối già Nam Mỹ (Musa acuminata Cavendish Subgroup)
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.7.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (583.8K)
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của hệ nhũ tương nano từ chitosan và tinh dầu cây tràm gió (MEO-CS-Nes) trong việc kéo dài thời hạn sử dụng chuối già Nam Mỹ sau thu hoạch. Các tính chất lý hóa của hệ nhũ tương nano đã được mô tả với kích thước hạt và điện thế zeta lần lượt là 99,72 nm và 36,53 mV cho thấy độ ổn định tốt. Hoạt tính kháng nấm của MEO-CSNes đối với các tác nhân gây bệnh phổ biến sau thu hoạch bao gồm Lasiodiplodia theobromae và Colletotrichum gloeosporioides, đã được đánh giá in vitro, cho thấy giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (MIC)/nồng độ diệt nấm tối thiểu (MFC) lần lượt là 62,5/125 và 62,5/250 ppm. Các thí nghiệm in vivo trên chuối đã chứng minh rằng xử lý MEO-CS-Nes có hiệu quả bảo quản chuối, duy trì màu sắc của vỏ, thịt quả và độ cứng lên đến 9 ngày so với nhóm không qua xử lý. Xử lý bằng chitosan. MEO-CS-Nes làm chậm quá trình hóa nâu của quả do hoạt động của polyphenol oxidase (PPO) và peroxidase (POD). Những kết quả này cho thấy MEO-CS-Nes có hiệu quả trong bảo quản và duy trì chất lượng chuối sau thu hoạch, là một giải pháp thân thiện với môi trường và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, góp phần vào sự phát triển nông nghiệp xanh và bền vững.
Nghiên cứu chiết xuất các phenolic acid từ vỏ quả cà phê
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.8.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (512.8K)
Tóm tắt
Vỏ quả cà phê, một phụ phẩm dồi dào trong quá trình sản xuất cà phê, chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học, đặc biệt là các phenolic acid như chlorogenic acid, caffeic acid và protocatechuic acid. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả chiết xuất các phenolic acid của phương pháp đun hồi lưu và chiết xuất có hỗ trợ enzyme. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp đun hồi lưu sử dụng dung môi ethanol 50% trong thời gian 180 phút đã đạt hiệu quả chiết xuất polyphenol 27,10 mg GAE/g, thấp hơn so với phương pháp chiết xuất bằng enzyme Celluclast và Viscozyme với hàm lượng polyphenol tương ứng là 27,96 và 28,52 mg GAE/g. Phương pháp đun hồi lưu với nước và ethanol 50% cho hiệu quả chiết xuất chlorogenic acid cao nhất đạt lần lượt 135,35 và 134,10 mg/100 g. Trong khi enzyme Celluclast cho hiệu quả chiết xuất protocatechuic acid tối ưu 81,96 mg/100 g sau 15 phút. Lượng caffeic acid gia tăng nhanh chóng đạt 67,74 mg/100 g sau 60 phút sử dụng Viscozyme, cao gấp 16,5 lần so với phương pháp đun hồi lưu. Phương pháp bắt gốc tự do DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) phù hợp với chiết xuất bằng phương pháp đun hồi lưu với dung môi, cho hàm lượng chất chống oxy hóa tương đương 62,89 mg Trolox/g. Trong khi thử nghiệm ABTS (2,2'-azino-bis (3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid)) nhạy hơn với chiết xuất bằng enzyme, cho kết quả hợp chất chống oxy hóa tương đương 76,51 - 77,57 mg Trolox/g. Chọn lựa phương pháp chiết xuất thích hợp để thu nhận hiệu quả các hoạt chất sinh học là bước quan trọng để phát triển sâu hơn các ứng dụng cụ thể của vỏ cà phê trong các lĩnh vực liên quan.
Môi trường và Tài nguyên
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.9.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.4M)
Tóm tắt
Với mục tiêu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) mới cho Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, thông qua các phương pháp thu thập dữ liệu, xác định khối lượng và phân loại, phương pháp chuyên gia, xử lý thông tin, chúng tôi xác định được: CTRSH tại trường phát sinh do sinh viên, cán bộ công nhân viên (CBCNV) tại giảng đường, thư viện, văn phòng, khoa thực hành thí nghiệm, ký túc xá (KTX) và khu vực công cộng; phát hiện 12 loại CTRSH khác nhau chia thành 3 nhóm chính: chất thải rắn (CTR) có khả năng tái sử dụng tái chế, chất thải thực phẩm, CTRSH khác; khối lượng CTRSH phát thải trung bình 1.532,08 kg/ngày (508.651 kg/năm). Hệ số phát thải mỗi ngày tại giảng đường, thư viện, văn phòng, khoa là 0,051 kg/người, tại KTX là 0,198 kg/người. Tuy CTRSH tại trường hiện đã được quản lý nhưng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế. Từ đó, nhóm đề xuất các giải pháp tuyên truyền nâng cao ý thức phân loại; các mô hình quản lý, xử lý mới kết hợp phân loại CTRSH tại nguồn như mô hình phân loại 3 cấp độ và 3 nhóm thu gom, mô hình 5R. Các phương pháp trên giúp trường xây dựng quy trình quản lý CTRSH mới hợp vệ sinh, giảm chi phí vận chuyển và xử lý, giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường.
Đánh giá hiện trạng và dự báo chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Bản điện tử:
25 Feb 2026
| DOI:
10.52997/jad.10.01.2026
Tóm tắt
|
PDF (1.3M)
Tóm tắt
Phường Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An (tỉnh Bình Dương), là khu vực phát triển công nghiệp trọng điểm, kéo theo áp lực ngày càng gia tăng trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Nghiên cứu này nhằm đánh giá thực trạng thu gom, vận chuyển và quản lý CTRSH trên địa bàn phường. Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát thực địa, thu thập 360 phiếu (100 hộ gia đình, 250 hộ kinh doanh và 10 đơn vị thu gom), kết hợp phân tích số liệu thống kê và ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để tích hợp dữ liệu không gian. Kết quả cho thấy tỷ lệ đồng thuận phân loại rác tại nguồn đạt 59% ở hộ gia đình và 70,4% ở hộ kinh doanh. Lượng CTRSH phát sinh trung bình là 0,94 kg/người trong 01 ngày, tương đương 100,47 tấn/ngày, đến năm 2030, dự báo lượng CTRSH sẽ tăng lên 117,03 tấn/ngày, điều này gợi suy cho việc cần thiết phải nâng cấp hệ thống thu gom và xử lý, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao. Phường hiện có 10 đơn vị thu gom với 24 phương tiện vận chuyển, tuy nhiên còn tồn tại tình trạng chồng lấn địa bàn hoạt động, gây khó khăn trong quản lý. Trên cơ sở phân tích không gian, nghiên cứu đề xuất 21 tuyến thu gom tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả thu gom, giảm thiểu chi phí và góp phần cải thiện công tác quản lý CTRSH tại địa phương.