Ngày xuất bản: 2025-10-25
Số báo đầy đủ
Nông học, Lâm Nghiệp
Đánh giá thực trạng canh tác dừa khu vực bờ biển tỉnh Khánh Hòa
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.2.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (127.7K)
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng canh tác dừa khu vực bờ biển tỉnh Khánh Hòa. Tiến hành khảo sát 120 nông hộ trồng dừa ở thành phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa và huyện Vạn Ninh. Kết quả cho thấy, vùng khảo sát người dân chủ yếu trồng giống dừa uống nước với hình thức chuyên canh và diện tích trồng dừa dưới 0,4 ha/hộ. Giống trồng để lấy quả uống nước có độ tuổi từ 6 đến 10 năm và năng suất từ 50 đến 100 quả/cây trong 1 năm; giống dừa lấy dầu là trên 30 năm tuổi và năng suất từ 20 đến 40 quả/cây trong 1 năm. Mật độ trồng dừa khoảng 400 cây/ha, có đào hố và bón lót trước khi trồng. Phân hữu cơ được bón bằng cách rải xung quanh gốc, bón dưới 3 lần/năm và liều lượng từ 10 đến 20 kg/cây. Phân vô cơ được nông hộ rải xung quanh gốc, bón dưới 3 lần/năm với liều lượng N và P2O5 từ 100 đến 200 g/cây, K2O chủ yếu dưới 200 g/cây. Chi phí chăm sóc dừa thời kỳ kinh doanh phổ biến dưới 20 triệu đồng/ha trên 1 năm, thu nhập từ dừa đa số dưới 150 triệu đồng/ha trong 1 năm và lợi nhuận chủ yếu dưới 100 triệu đồng/ha trong 1 năm.
Ảnh hưởng của nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng thực vật và thời gian chiếu sáng đến quá trình nhân giống in vitro cây dâu tây (Fragaria x ananassa Duch.)
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.1.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (610.7K)
Tóm tắt
Dâu tây (Fragaria x ananassa Duch.) là loại quả có hương thơm đặc trưng, màu đỏ tươi, mọng nước và vị ngọt được tiêu thụ với số lượng lớn. Trong nghiên cứu này, các chất điều hòa sinh trưởng (2,4-D: 2,4-dichlorophenoxyacetic acid; BA: 6- enzylaminopurine; IBA: indole-3-butyric acid; NAA: naphthaleneacetic acid), thời gian chiếu sáng (0 giờ/ngày, 16 giờ/ngày) và môi trường MS (Murashige & Skoog) được sử dụng để xác định nồng độ với thời gian chiếu sáng thích hợp cho quá trình tạo mô sẹo, nhân nhanh chồi và tạo rễ cây dâu tây. Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường MS bổ sung 2,0 mg/L 2,4-D trong điều kiện không có ánh sáng cho tỷ lệ tạo mô sẹo cao nhất (69,3%), trọng lượng mô sẹo là 254,8 mg tại thời điểm 49 ngày sau cấy. Sự kết hợp 0,5 mg/L BA + 0,5 mg/L IBA có kết quả tốt nhất về hệ số nhân chồi (11,9 lần), chiều cao chồi (3,8 cm), số lá/cụm chồi (40,0 lá) trọng lượng tươi cụm chồi (2,4 g) sau 42 ngày nuôi cấy. Môi trường MS bổ sung 0,1 mg/L NAA có tỷ lệ ra rễ cao nhất (100%), 17,3 rễ/cây với chiều dài rễ 2,5 cm, đường kính cổ rễ 2,5 mm, chiều cao cây 5,2 cm và 5,6 lá/cây ở thời điểm 21 ngày sau cấy.
Chăn nuôi, thú y và thủy sản
Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của lươn đồng Monopterus albus Zuiew, 1793 giai đoạn ương giống
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.8.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (220.6K)
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm tìm ra độ mặn thích hợp, ứng dụng nuôi lươn đồng (Monopterus albus Zuiew, 1793) trong tình hình xâm nhập mặn ngày càng gia tăng như hiện nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu về tăng trưởng, tỷ lệ sống (TLS) và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) của lươn nuôi theo các nghiệm thức (NT) có độ mặn 0‰, 2‰, 4‰, 6‰ và 8‰; trong đó 0‰ là NT đối chứng. Kết quả cho thấy, sau 45 ngày nuôi, tăng trưởng về khối lượng (WG), tăng trưởng theo ngày về khối lượng (DWG) của lươn cao nhất ở NT 0‰ (WG là 4,3 g, DWG là 0,1 g/ngày) và ở NT 8‰ lươn có WG, DWG thấp nhất (WG là 2,2 g; DWG là 0,05 g/ngày). Lươn nuôi có TLS cao ở NT 0‰, 2‰ và 4‰ với 100% và thấp nhất ở NT 8‰ với 85%. Chỉ số FCR của lươn cao nhất ở NT 8‰ (6,52), thấp nhất ở NT 0‰ (2,99) và khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05) so với FCR ở các NT 2‰ (3,33), và 4‰ (3,51). Bên cạnh nước ngọt, môi trường nước có độ mặn đến 4‰ sẽ thích hợp để ứng dụng ương giống lươn đồng.
Thực trạng về thức ăn và khẩu phần ăn hằng ngày trong chăn nuôi bò thịt nông hộ tại một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.7.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (138.4K)
Tóm tắt
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực tế các về vấn đề liên quan thức ăn và khẩu phần ăn hằng ngày trong chăn nuôi bò thịt nông hộ (CNBTNH) tại một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam. Tổng 90 hộ CNBT được chọn từ huyện Cát Tiên, Đơn Dương và Đức Trọng (10 hộ/xã và 03 xã/huyện) để thực hiện điều tra bằng bảng khảo sát và phỏng vấn trực tiếp theo mô hình nghiên cứu cắt ngang thông qua phương pháp điều tra tiêu chuẩn nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA). Kết quả cho thấy ở nhóm thức ăn thô thì rơm (96,67%) và cỏ voi (82,22%) là hai loại thực liệu được sử phổ biến nhất ở CNBTNH (P < 0,001), trong khi cám hỗn hợp (52,22%) và cám gạo (32,22%) là thức ăn phổ biến nhất ở nhóm thức ăn tinh (P < 0,001). Diện tích đồng cỏ trung bình ở CNBTNH là 1.443 m2/hộ và không có sự khác biệt giữa các huyện (P > 0,05). Khẩu phần ăn ở CNBTNH đã kết hợp đa dạng từ thức ăn thô (cỏ voi, cỏ tự nhiên, thức ăn ủ chua, rơm và các phụ phẩm nông nghiệp) và thức ăn tinh (cám hỗn hợp, cám gạo, bột bắp và các phụ phẩm) với tỷ lệ thô:tinh ước tính là 74,84:25,14 (P < 0,01). Phương pháp cho ăn khẩu phần thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR) hiện chưa được áp dụng tại các hộ chăn nuôi bò thịt và người chăn nuôi tự ước lượng thành phần thức ăn cho bò (chưa có tiêu chuẩn cho ăn). Ngoài ra, điều kiện bảo quản thức ăn cũng chưa đảm bảo, do đó khuyến nghị việc xử lý thức ăn bị hư/mốc cần quan tâm hơn (P < 0,01).
Nghiên cứu chế tạo màng sợi nano từ chitosan/polyvinyl alcohol kết hợp cao chiết vỏ quả măng cụt (Garcinia mangostana L) kháng vi khuẩn Staphylococcus aureus và Pseudomonas aeruginosa phân lập trên vết thương của chó
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.3.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (480.2K)
Tóm tắt
Phương pháp kéo sợi điện trường (electrospinning) được dùng để tạo ra màng sợi nano từ chitosan/polyvinyl alcohol (CS/PVA). Sau đó, cao chiết từ vỏ quả măng cụt (MG) được bổ sung lên màng bằng kỹ thuật phủ với nồng độ 150 mg/mL để thu được màng sợi nano kháng khuẩn (CS/PVA-MG). Đường kính các sợi nano sau khi điều chế dao động từ 200 - 390 nm. Tính kháng khuẩn của màng nano CS/PVA-MG được kiểm tra trên môi trường thạch đĩa và môi trường bán lỏng. Vòng kháng khuẩn của màng trên môi trường thạch đĩa dao động trong khoảng từ 16,67 đến 18,00 mm đối với S. aureus và 11,00 đến 12,67 mm cho P. aeruginosa. Trên môi trường bán lỏng màng nano CS/PVA-MG ức chế hoàn toàn sinh trưởng phát triển của vi khuẩn S. aureus và P. aeruginosa. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả ức chế vi khuẩn S. aureus và P. aeruginosa của màng nano chitosan/polyvinyl alcohol được bổ sung 150 mg/mL cao chiết từ vỏ quả măng cụt (CS/PVA-MG), và tiềm năng sử dụng màng CS/PVA-MG trong điều trị vết thương ngoài da có nhiễm trùng trên thú.
Ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh, tăng trưởng giai đoạn trước cai sữa và tuổi phối giống lần đầu lên tuổi đẻ lứa đầu và mối liên quan đến năng suất sữa chu kỳ đầu của bò tơ HF nuôi tại Trang trại Bò sữa Công nghệ cao Phú Yên
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.9.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (138.6K)
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của khối lượng sơ sinh, tăng trưởng giai đoạn trước cai sữa và tuổi phối giống lần đầu lên tuổi đẻ lứa đầu và mối liên quan đến năng suất sữa chu kỳ đầu của bò tơ HF nuôi tại Trang trai bò Bò sữa Công nghệ cao Phú Yên. Sử dụng dữ liệu thu nhận từ 292 bò tơ đẻ từ 8/2023 đến 6/2024 để phân tích khối lượng sơ sinh, tăng trưởng giai đoạn trước cai sữa và tuổi phối giống lần đầu ảnh hưởng đến tuổi đẻ lứa đầu của chúng và từ 781 bò tơ đẻ lứa đầu trong giai đoạn 2021 - 2023 có đủ chu kỳ sữa 305 ngày để đánh giá mối liên quan giữa tuổi đẻ lứa đầu với năng suất sữa ở chu kỳ đầu. Kết quả cho thấy tuổi đẻ lứa đầu trung bình là 24,43 tháng, với 85% số bò đẻ lứa đầu trong khoảng 23,00 - 25,99 tháng. Phân tích tương quan cho thấy có mối tương quan âm giữa khối lượng sơ sinh và tuổi đẻ lứa đầu (r = -0,106; P < 0,05), giữa tăng khối lượng bình quân từ sơ sinh đến cai sữa và tuổi đẻ lứa đầu (r = -0,072; P > 0,05), và mối tương quan dương giữa tuổi phối giống lần đầu và tuổi đẻ lứa đầu (r = 0,485; P < 0,01). Bên cạnh đó, mối tương quan dương (r = 0,443 - 0,530; P < 0,001) giữa tuổi đẻ lứa đầu với năng suất sữa 305 ngày ở chu kỳ sữa thứ nhất. Từ kết quả này cho thấy có mối tương quan âm và có lợi được nhận diện ở hai yếu tố về khối lượng sơ sinh và tăng khối lượng bình quân ngày giai đoạn sơ sinh - cai sữa đến tuổi đẻ lứa đầu. Tương quan dương nhưng theo xu hướng bất lợi giữa yếu tố tuổi phối giống lần đầu với tuổi đẻ lần đầu hay tuổi đẻ lứa đầu với năng suất sữa 305 ngày ở chu kỳ sữa đầu. Do đó, việc quản lý nuôi dưỡng tối ưu nhằm rút ngắn tuổi đẻ lứa đầu, góp phần giảm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa.
Đặc điểm hình thái các giai đoạn phát triển phôi của cá cầu vồng Parkinson (Melanotaenia parkinsoni) trong điều kiện nuôi nhân tạo
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.5.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (1.1M)
Tóm tắt
Cá cầu vồng Parkinson (Melanotaenia parkinsoni) là một loài cá cảnh phổ biến. Tuy nhiên, kiến thức về sinh học sinh sản, đặc biệt là sự phát triển phôi của loài này vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm mục đích khảo sát đặc điểm hình thái theo giai đoạn phát triển của phôi cá Parkinson trong điều kiện nuôi nhân tạo. Trứng đã thụ tinh, có đường kính khoảng 1,2 mm và màu vàng trong suốt, được thu thập và ấp ở nhiệt độ 26 - 28°C trong môi trường được kiểm soát. Quá trình phát triển được quan sát ở nhiều thời điểm khác nhau bằng kính hiển vi quang học. Quá trình phát triển phôi được chia thành bốn giai đoạn: (1) Giai đoạn hợp tử, phân cắt và phôi nang; (2) giai đoạn phôi vị và phân đốt; (3) giai đoạn hình thành cơ quan; và (4) giai đoạn nở. Giai đoạn phân cắt diễn ra nhanh chóng, từ hợp tử đến phôi dâu trong vòng 6 giờ. Giai đoạn phôi vị được đánh dấu bởi sự hình thành lá chắn phôi và lớp đồng bào noãn hoàng vào khoảng 28 giờ. Trong giai đoạn hình thành cơ quan (34 - 130 giờ sau thụ tinh), các cấu trúc quan trọng như các đốt sống, túi Kupffer, túi tai, và hoạt động tim được quan sát, với sắc tố bắt đầu xuất hiện trên mắt và cơ thể. Quá trình nở diễn ra trong khoảng 140 - 164 giờ, tạo ra ấu trùng dài khoảng 3 mm với nhịp tim trung bình 119 - 130 nhịp mỗi phút. Kết quả nghiên cứu cung cấp những hiểu biết chi tiết về sinh học sinh sản của cá cầu vồng Parkinson. Thông tin này có thể hữu ích cho việc tối ưu hóa quy trình nhân giống nhân tạo và góp phần vào các nỗ lực bảo tồn loài cá này.
Một số đặc điểm sinh trưởng và sinh học sinh sản của cá hồng mi ấn độ (Puntius Denisonii)
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.4.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (765.6K)
Tóm tắt
Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định một số đặc điểm sinh trưởng và sinh học sinh sản của cá Hồng Mi Ấn Độ trong điều kiện nuôi nhốt. Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 7/2023 đến tháng 12/2023. Phân tích tương quan giữa chiều dài và khối lượng cho kết quả W = 0,0159 L2,7987; mối tương quan rất chặt chẽ với hệ số tương quan R2 = 0,9874. Giá trị b nhỏ hơn 3 cho thấy sự sinh trưởng không đồng nhất về khối lượng và chiều dài. Độ béo Fulton dao động từ 0,91 - 1,16% đối với cá đực và 1,09 - 1,40% đối với cá cái. Hệ số thành thục ở cá đực từ 2,57 - 7,79% và cá cái từ 2,85 - 10,94%. Trứng cá là trứng dính, màu vàng nhạt tới vàng đậm, hình cầu, trứng nở trong vòng 34 - 36 giờ ở nhiệt độ 28 ± 0,5oC. Đường kính trứng từ 1.286 - 1.510 µm. Sức sinh sản tuyệt đối ở nhóm chiều dài 9 - 10 cm là 229 - 581 trứng/cá thể và ở nhóm chiều dài 11 - 12 cm là 457 - 1.058 trứng/cá thể. Sức sinh sản tương đối ở nhóm chiều dài 9 - 10 cm là 19 - 43 trứng/g cá cái và ở nhóm chiều dài 11 - 12 cm là 32 - 56 trứng/g cá cái. Như vậy, cá Hồng Mi Ấn Độ có thể thành thục sinh dục và sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt.
Ảnh hưởng của probiotic lên chất lượng nước, sinh trưởng, tỷ lệ sống và mật độ Vibrio trong ương giống cua xanh (Scylla paramamosain)
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.6.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (925K)
Tóm tắt
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng nước, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của cua giống và mật độ vi khuẩn Vibrio sp. khi sử dụng probiotic (Vibrotech) ở các phương pháp khác nhau bao gồm: chỉ cho vào nước (AW), cho vào nước kết hợp trộn vào cho ăn (AW - AF), chỉ trộn vào thức ăn (AF) và nghiệm thức không sử dụng probiotic làm đối chứng (CT). Sau 30 ngày ương kết quả cho thấy, probiotic giúp cải thiện chất lượng nước, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của cua giống và làm giảm mật độ Vibrio sp. so với nhóm đối chứng (P < 0,05). Trong đó, kết quả tốt nhất về tốc độ tăng trưởng đặc trưng về chiều dài (5,60%/ngày), tỷ lệ sống (43,44%) và mật độ Vibrio sp. tổng số trong ruột cua (3,4 x 104 CFU/g) được tìm thấy ở nghiệm thức AW - AF. Kết quả của nghiên cứu khuyến cáo nên bổ sung probiotic vào nước kết hợp trộn vào thức ăn trong ương cua giống để cải thiện chất lượng nước, nâng cao tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hạn chế mầm bệnh do Vibiro sp. gây ra.
Môi trường và Tài nguyên
Mức ồn và thực trạng sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân tại một xưởng may mặc tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Bản điện tử:
25 Oct 2025
| DOI:
10.52997/jad.10.05.2025
Tóm tắt
|
PDF (935.1K)
Tóm tắt
Tiếng ồn là một mối nguy nghề nghiệp phổ biến trong môi trường công nghiệp, đặc biệt trong ngành dệt may - nơi hệ thống máy móc hoạt động liên tục và thường tạo ra mức ồn vượt ngưỡng an toàn. Nghiên cứu này được thực hiện tại một cơ sở may mặc lớn ở thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam nhằm khảo sát thực trạng sử dụng phương tiện bảo vệ thính giác (HPD), các triệu chứng sức khỏe liên quan đến tiếng ồn của người lao động (NLĐ), và xây dựng bản đồ phân bố mức độ tiếng ồn theo không gian tại nơi làm việc. Dữ liệu được thu thập từ 100 NLĐ thông qua khảo sát bảng hỏi và 186 điểm đo áp suất âm theo tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam. Kết quả cho thấy tất cả các khu vực làm việc đều có mức ồn dưới ngưỡng tiếp xúc trong tám giờ 85 dBA; tuy nhiên, hơn 60% NLĐ làm việc trong môi trường có mức ồn trên 70 dBA - mức có thể kích hoạt phản ứng căng thẳng sinh lý nếu tiếp xúc kéo dài. Mặc dù phần lớn NLĐ đã được đào tạo về vệ sinh lao động, chỉ 30% sử dụng HPD thường xuyên, trong khi 22% báo cáo các triệu chứng như đau đầu, ù tai hoặc rối loạn giấc ngủ sau giờ làm. Sự thiếu nhận thức và cảm giác “quen với tiếng ồn” là nguyên nhân khiến tỉ lệ sử dụng HPD còn thấp. Nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường đào tạo, giám sát việc sử dụng HPD và áp dụng các giải pháp kiểm soát tiếng ồn nhằm đảm bảo sức khỏe lâu dài cho NLĐ trong ngành dệt may.