https://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/issue/feedTạp chí Nông nghiệp và Phát triển2026-08-25T00:00:00+07:00Tòa soạn Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnjad@hcmuaf.edu.vnOpen Journal Systems<p><em>“Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển (TCNN&PT) xem xét xuất bản các nghiên cứu gốc, các bài nghiên cứu ngắn và các bài tổng quan, có tính mới và hoàn chỉnh về mặt khoa học trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến khoa học nông nghiệp. Bản thảo phù hợp để xuất bản phải phản ánh mối quan tâm chung của cộng đồng khoa học và/hoặc của công chúng. Bản thảo được xem xét phải đóng góp đáng kể vào kiến thức học thuật chuyên ngành và phải tuân thủ các quy định xuất bản của TCNN&PT.”</em></p>https://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1503Đánh giá hiệu quả xử lý N bằng công nghệ sinh học hiếu khí từng mẻ khi thay đổi tỉ lệ nhu cầu ôxi hóa học:N2025-05-30T16:30:19+07:00Thành Lợi Nguyễn21127114@st.hcmuaf.edu.vnLâm Ái Quyên Nguyễnnlaquyen@gmail.comNgọc Trân Trịnhtntran@gmail.comHoàng Uyên Thảo Nguyễnnhuthao@gmail.comVăn Huy Nguyễnhuy.nguyenvan@hcmuaf.edu.vn<p>Nghiên cứu đánh giá hiệu quả xử lý Nitơ trong nước thải mô phỏng bằng công nghệ sinh học hiếu khí từng mẻ khi thay đổi tỉ lệ COD:N. Kết quả thực nghiệm với tải trọng bằng 1,14 kg COD/m³.ngày, nồng độ bùn trong khoảng 2500 ÷ 3000 mg/L ở pH 7 ÷ 8,5 và thời gian sục khí trong một mẻ là 6 giờ (vận hành 24 giờ liên tục) cho thấy so với tỉ lệ gốc COD:N = 100:5 (theo các giáo trình) thì COD : N = 100:7,5 là tối ưu nhất cho hiệu suất xử lý Tổng Nitơ ổn định trong khoảng 81,8 ÷ 93,3 % được xem là phù hợp nhất cho vận hành hệ thống Aerotank theo từng mẻ trong điều kiện nghiên cứu và thời gian sục khí được duy trì ở mức 6 giờ cho thấy hiệu quả xử lý Nitơ ổn định Đồng thời, hệ thống cũng cho thấy khả năng xử lý chất hữu cơ rất hiệu quả, với hiệu suất loại bỏ COD luôn duy trì ở mức trên 88% bất kể tỉ lệ COD:N được áp dụng trong quá trình nghiên cứu. Điều này chứng tỏ rằng quá trình xử lý không chỉ ổn định mà còn có tính linh hoạt cao, đáp ứng tốt các biến động về tải lượng hữu cơ trong nước thải.</p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1499Nghiên cứu sử dụng phế phẩm gạch gốm nghiền làm giá thể trồng cây hoa bâng khuâng (Angelonia angustifolia Benth.) tại tỉnh Bình Dương2025-06-05T15:04:42+07:00Thị Cẩm Nhung Trươngcamnhung@hcmuaf.edu.vnHuỳnh Thị Quế Trân Nguyễn20131058@st.hcmuaf.edu.vnThị Mỹ Tiên Dươngduongmytien@hcmuaf.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phế phẩm gạch gốm nghiền đến sinh trưởng và sự ra hoa của cây bâng khuâng (</span><em><span class="fontstyle2">Angelonia angustifolia </span></em><span class="fontstyle0">Benth.). Thí nghiệm một yếu tố được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD) gồm 5 nghiệm thức (G1: 40% xơ dừa + 40% tro trấu + 20% phân trùn (ĐC); G2: 80% ĐC + 20% gạch gốm nghiền; G3: 60% ĐC + 40% gạch gốm nghiền; G4: 40% ĐC + 60% gạch gốm nghiền; và G5: 20% ĐC + 80% gạch gốm nghiền) và 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 10 chậu, mỗi chậu 1 cây. Tổng số cây có trong thí nghiệm là 150 cây. Kết quả cho thấy độ thoáng khí có xu hướng tăng khi tăng liều lượng phối trộn phế phẩm gạch gốm nghiền trong giá thể, ngược lại khả năng giữ nước của hỗn hợp giá thể thì giảm, cụ thể khi thêm 80% đất sét nung vào hỗn hợp giá thể đối chứng thì độ thoáng khí tăng từ 11,8 lên 23,6% và khả năng giữ nước giảm từ 50,74 xuống 18,65%. Kết quả theo dõi quá trình sinh trưởng và sự ra hoa của cây bâng khuâng cho thấy giá thể có 40% phế phẩm gạch gốm nghiền + 60% hỗn hợp giá thể (xơ dừa + tro trấu + phân trùn theo tỉ lệ 2:2:1) thì cây đạt các chỉ tiêu cao nhất về chiều cao cây (36,9 cm), số cành cấp 1 (15,1 cành/cây), chiều dài cành hoa (25,5 cm), sinh khối hoa tươi (15 g), sinh khối hoa khô (8,3 g), thời gian ra nụ (18,6 ngày) và độ bền hoa (14,3 ngày).</span> </p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1519Sự đa dạng của các loài sen đá trên thị trường cây cảnh của Thành phố Hồ Chí Minh và ứng dụng trong trang trí nội thất2025-09-16T11:01:19+07:00Nữ Gia Ái Tônai.tonnugia@hcmuaf.edu.vnThị Mỹ Tiên Dươngduongmytien@hcmuaf.edu.vnThiện Thanh Nguyễnntthanh@gmail.comNgọc Nhuận Đỗdnnhuan@hcmuaf.edu.vnThị Anh Trâm Hoànghtatram@gmail.com<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này tập trung khảo sát và định danh các loài sen đá được kinh doanh làm cảnh tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó ứng dụng trong thiết kế tiểu cảnh nội thất. Đề tài sử dụng phương pháp điều tra thực địa tại 10 quận của thành phố và định danh loài theo hình thái học kết hợp với tài liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu thực vật trực tuyến. Tổng cộng 66 loài sen đá thuộc 5 họ và 2 lớp thực vật đã được ghi nhận, trong đó lớp Magnoliopsida chiếm ưu thế tuyệt đối (81,8%), với họ Crassulaceae là đại diện nổi bật (chiếm 79% tổng số loài). Hình thái chiếm ưu thế là dạng xòe (82%), nguồn gốc của sen đá chủ yếu từ các khu vực có khí hậu khô cằn như Nam Phi và Mexico. Trên cơ sở đó, các tiểu cảnh với bố cục cân bằng, phối hợp giữa các dạng cây, vật liệu tái chế và phụ kiện trang trí theo chủ đề phù hợp các dịp lễ, tết và cả ngày thường được thực hiện nhằm minh họa khả năng kết hợp sen đá với vật liệu nội thất và biểu tượng văn hóa. Các tiểu cảnh cho thấy chi phí phù hợp, tính linh hoạt, giá trị thẩm mỹ và tiềm năng sinh thái của sen đá trong không gian nội thất đô thị hiện đại. Đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng để phát triển mô hình sen đá trong thiết kế nội thất tại đô thị.</span> </p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1466Đánh giá khả năng kháng khuẩn của tinh dầu tràm trà thô (Melaleuca alternifolia) trên vi khuẩn Bordertella bronchiseptica được phân lập trên chó2026-08-21T16:40:13+07:00Ngọc Thanh Xuân Nguyễnxuan.nguyenngocthanh@hcmuaf.edu.vnThị Hải Hậu Trầntthhau@gmail.comThị Hải Yến Trầntthyen@gmail.com<p><span class="fontstyle0">Tinh dầu tràm trà (TTO) được chiết xuất bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước ở 100</span><span class="fontstyle0">o</span><span class="fontstyle0">C trong 100 phút với hiệu suất khoảng 2,6%. TTO thu được có dạng chất lỏng trong suốt, màu từ vàng nhạt đến không màu và có mùi hơi cay nhẹ. Sau đó, tinh dầu này được kiểm tra khả năng kháng các chủng vi khuẩn </span><em><span class="fontstyle2">Bordetella bronchiseptica </span></em><span class="fontstyle0">phân lập từ chó có triệu chứng hô hấp. Trong số 45 mẫu bệnh phẩm thu được, 10 chủng </span><em><span class="fontstyle2">Bordetella bronchiseptica </span></em><span class="fontstyle0">đã được chọn lọc bằng PCR. Kết quả kháng sinh đồ cho thấy các chủng này có khả năng kháng nhiều loại kháng sinh phổ biến trong thú y, đặc biệt là amoxicillin (70%) và cephalosporin (80%). Tinh dầu tràm trà ức chế vi khuẩn </span><em><span class="fontstyle2">Bordetella bronchiseptica </span></em><span class="fontstyle0">ở nồng độ từ 5 đến 60 mg/mL với đường kính vòng kháng khuẩn từ 7,33 đến 23,33 mm được xác định bằng phương pháp khuếch tán trên môi trường thạch đĩa. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của tinh dầu tràm trà trên chủng </span><span class="fontstyle2"><em>Bordetella bronchiseptica</em> Bb3 </span><span class="fontstyle0">và </span><span class="fontstyle2">Bb4 </span><span class="fontstyle0">lần lượt là 0,08 và 0,04 mg/mL. Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) đều là 0,156 mg/mL trên cả hai chủng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tinh dầu tràm trà có tiềm năng trở thành một phương pháp hỗ trợ điều trị an toàn và hiệu quả đối với bệnh hô hấp ở chó do </span><em><span class="fontstyle2">Bordetella bronchiseptica </span></em><span class="fontstyle0">gây ra. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu </span><em><span class="fontstyle2">in vivo </span></em><span class="fontstyle0">để khẳng định và đánh giá toàn diện hơn hiệu quả này.</span></p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1550Đặc điểm hình thái của loài cá đối lưng xanh Planiliza subviridis (Valenciennes, 1836) ở vùng cửa sông, ven biển Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh2026-08-21T16:55:01+07:00Trung Can Trầncantran.fishery@gmail.comMinh Sang Huỳnhhmsang2000@yahoo.comNgọc Trí Tháitntri@ils.vast.vn<p><span class="fontstyle0">Loài cá đối lưng xanh </span><em><span class="fontstyle2">Planiliza subviridis </span></em><span class="fontstyle0">(Valenciennes, 1836) là một trong những loài cá có giá trị kinh tế, phân bố ở vùng cửa sông, ven biển huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh (hiện nay gồm các xã Bình Khánh, An Thới Đông, Cần Giờ và Thạnh An). Nghiên cứu được thực hiện trên các mẫu cá thu tại huyện Cần Giờ. Ba mươi cá thể (mẫu ngâm) có chiều dài toàn thân 129,87 - 178,04 mm, trung bình 145,42 mm; trọng lượng 19,17 - 56,82 g, trung bình 30,01 g được sử dụng cho nghiên cứu đặc điểm hình thái. Tổng số 381 cá thể (129 đực, 245 cái, 7 không phân biệt giới tính) thu mẫu từ tháng 11/2023 đến 11/2024 dùng cho phân tích tương quan chiều dài khối lượng và hệ số điều kiện tương đối (Kn). Cá đối lưng xanh có đặc trưng hình thái (chỉ tiêu đếm) gồm D1 IV; D2 I,8; A III,9; V I,5; P 14 - 15; C 16, Pect sc 7 - 8, D1 sc 9 - 10, D2 sc 19 - 21, Ll 30 - 33. Tương quan chiều dài – khối lượng được thể hiện bằng phương trình chung W= 0,016 x L</span><sup><span class="fontstyle0">2,859 </span></sup><span class="fontstyle0">(R</span><sup><span class="fontstyle0">2 </span></sup><span class="fontstyle0">= 0,949; n = 381); W</span><sub><span class="fontstyle0">cái</span></sub><span class="fontstyle0">= 0,017 x L</span><sup><span class="fontstyle0">2,842 </span></sup><span class="fontstyle0">(R</span><sup><span class="fontstyle0">2 </span></sup><span class="fontstyle0">= 0,947; n = 245); cá đực W</span><sub><span class="fontstyle0">đực</span></sub><span class="fontstyle0">= 0,030 x L</span><sup><span class="fontstyle0">2,626 </span></sup><span class="fontstyle0">(R</span><sup><span class="fontstyle0">2 </span></sup><span class="fontstyle0">= 0,899; n = 129). Hệ số tăng trưởng (b) của cá cái cao hơn cá đực và khác biệt có ý nghĩa thống kê (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,05). Hệ số điều kiện tương đối (Kn) của cá đối vào mùa khô 0,720 - 1,378 (trung bình 0,988), mùa mưa 0,737 - 1,254 (trung bình 1,204). Giá trị Kn mùa mưa cao hơn mùa khô với sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,01).</span></p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1524Nghiên cứu hồi cứu về ứng dụng mô hình học máy trong chẩn đoán bệnh thận mãn tính ở mèo dựa trên dữ liệu sinh lý và sinh hóa máu2025-09-24T09:28:59+07:00Hoàng Đạo Đặngdh.dao@hutech.edu.vnĐình Chánh Trầntdchanh@gmail.comThanh Bình Trầnttbinh@gmail.com<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2025 đến 8/2025, tại các phòng khám thú y ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Nghiên cứu hồi cứu phân tích dữ liệu sinh lý và sinh hóa máu của 60 mèo [30 khỏe mạnh và 30 mắc bệnh thận mãn tính (CKD)] để đánh giá hiệu quả học máy (ML) trong chẩn đoán CKD và xác định chỉ số sinh học. Các chỉ số gồm hồng cầu (RBC), Hemoglobin (HGB), hematocrit (HCT), bạch cầu (WBC), bạch cầu trung tính (Neu#), bạch cầu ưa axit (Eos#), tế bào lympho (Lym#), bạch cầu đơn nhân (Mon#), tiểu cầu (PLT), alanine aminotransferase (ALT), aspartate aminotransferase (AST), ni-tơ trong urea huyết (BUN), Creatinine (Crea), protein tổng số (TP), albumin (ALB) và glucose (GLU). Dữ liệu được tiền xử lý, chia 80% huấn luyện và 20% kiểm tra. Bảy mô hình ML [Logistic Regression, K-Nearest Neighbors (KNN), Decision Tree, Random Forest, Gradient Boosting, Support Vector Machine (SVM), Naive Bayes] được đánh giá qua độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu, F1-score và diện tích dưới đường cong (AUC). Mô hình SVM, Logistic Regression, KNN đạt độ chính xác 92%, với SVM có AUC cao nhất (0,98). Decision Tree, Random Forest, Naive Bayes kém hơn (75 - 83%), dễ tạo dương tính giả. Creatinine là chỉ số quan trọng nhất (hệ số ảnh hưởng: 1.178), tiếp theo là Mon#, AST, Neu#, WBC. Các chỉ tiêu Crea, WBC, Neu#, ALT và AST khác biệt đáng kể (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,01) giữa mèo khỏe và mèo bệnh. Tóm lại, ML, đặc biệt SVM, hứa hẹn hỗ trợ chẩn đoán sớm CKD, nâng cao quyết định lâm sàng.</span> </p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1536Ảnh hưởng của chỉ số nhiệt ẩm trong chuồng nuôi lên năng suất và chỉ số nhai lại của bò sữa giai đoạn khai thác sữa2025-09-18T15:46:13+07:00Văn Lợi Hồhvloi@gmail.comThất Tín Tôntttin@gmail.comTrung Kiên Đoàndtkien@gmail.comThanh Hải Nguyễnhai.nguyenthanh@hcmuaf.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chỉ số nhiệt ẩm (THI) trong chuồng nuôi lên năng suất và chỉ số nhai lại (RI) của bò sữa giai đoạn khai thác sữa tại Trang trại Bò sữa Nutimilk Gia Lai từ tháng 07 đến 09/2024. Nghiên cứu được thực hiện trên 251 bò sữa HF từ 4 nhóm đang cho sữa ở 4 khu chuồng nuôi, gồm nhóm năng suất sữa cao khu 1 (78 bò), năng suất sữa cao khu 2 (57 bò), sau sinh khu 1 (58 bò) và sau sinh khu 2 (58 bò). Kết quả cho thấy nhiệt độ, độ ẩm và THI biến động rất lớn (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,001) ở các chuồng nuôi cho 4 nhóm bò theo dõi và ở các thời điểm khác nhau trong ngày. Năng suất sữa, RI và lượng vật chất khô tiêu thụ (DMI) trung bình mỗi ngày khác nhau đáng kể (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,001) giữa 4 nhóm bò. Năng suất sữa trung bình của 4 nhóm bò thì khác nhau rõ rệt ở 3 thời điểm vắt sữa trong ngày, cao nhất là ca 1 (5 - 7 giờ 30) đạt 12,89 kg/bò, kế đến là ca 3 (21 - 23 giờ 30 đạt 11,81 kg/ca và thấp nhất là ca 2 (13 - 15 giờ 30) đạt 11,23 kg/ca (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,001). Chỉ số THI có mối tương quan nghịch rất chặc chẽ (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,01) với năng suất sữa (r = -0,95), RI (r = -0,89) và DMI (r = -0,57). Nhìn chung, số liệu trong nghiên cứu chỉ ra rằng THI trong chuồng nuôi ảnh hưởng lớn và có tương quan nghịch chặt chẽ đến năng suất, RI và DMI trung bình mỗi ngày của bò giai đoạn khai thác sữa.</span></p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1606Đặc điểm sinh học của loài cá đối đầu nhọn Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) ở vùng cửa sông, ven biển Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh2026-04-20T16:40:07+07:00Trung Can Trầncantran.fishery@gmail.comCông Khánh ĐinhKhanh_ccts@yahoo.comVăn Phẳng Võphangcangio@gmail.comMinh Sang Huỳnhhmsang2000@yahoo.comNgọc Trí Tháitntri@ils.vast.vn<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu này nhằm xác định đặc điểm sinh học của loài cá đối đầu nhọn </span><em><span class="fontstyle2">Moolgarda cunnesius </span></em><span class="fontstyle0">(Valenciennes, 1836) ở vùng ven biển, cửa sông Cần Giờ. Các chỉ tiêu hình thái được đo, đếm trên 31 cá thể thu mẫu vào tháng 11/2022. Các đặc điểm sinh học được phân tích trên 344 cá thể cá thu từ tháng 1/2024 đến tháng 12/2024. Tương quan chiều dài khối lượng (LWR), hệ số điều kiện tương đối (Kn), chiều dài ruột tương đối (RLG), kích cỡ thành thục sinh dục đầu (L</span><sub><span class="fontstyle0">50</span></sub><span class="fontstyle0">), hệ số thành thục sinh dục (GSI) và sức sinh sản tương đối (Fr) được tính theo công thức. Xác định sức sinh sản tuyệt đối (Fa) bằng phương pháp đếm. Kết quả cho thấy tương quan chiều dài khối lượng cá thể hiện bằng công thức W = 0,023 x L</span><sup><span class="fontstyle0">2,731 </span></sup><span class="fontstyle0">(R</span><sup><span class="fontstyle0">2 </span></sup><span class="fontstyle0">= 0,909; n = 344). Giá trị Kn mùa mưa cao hơn mùa khô (</span><em><span class="fontstyle2">P </span></em><span class="fontstyle0">< 0,001). Chiều dài ruột tương đối (RLG) trung bình đạt 2,66 (1,85 - 3,92). Hệ số thành thục sinh dục (GSI) cao nhất tháng 2/2024 (2,60%), thấp nhất tháng 8/2024 (0,08%). Sức sinh sản tuyệt đối 13.302,0 - 77.253,0 trứng/cá cái, tương ứng với cá có khối lượng thân 46,73 - 81,31 g. Sức sinh sản tương đối đạt 503.557,0 trứng/kg cá cái. Kích cỡ thành thục sinh dục lần đầu 159,86 mm. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý và sử dụng hợp lý nguồn lợi cá đối đầu nhọn của khu vực Cần Giờ.</span></p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1484Nghiên cứu áp dụng hệ thống tưới tự động để nâng cao hiệu quả canh tác sầu riêng (Durio zibethinus L.) tại tỉnh Lâm Đồng2025-06-24T10:31:53+07:00Thị Trường Giang Trần18131012@st.hcmuaf.edu.vn<p><span class="fontstyle0">Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới tự động tích hợp cảm biến trong canh tác sầu riêng (</span><em><span class="fontstyle2">Durio zibethinus </span></em><span class="fontstyle0">L.) tại xã Phước Lộc, huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng. Hệ thống được thiết kế phù hợp với điều kiện địa hình thực tế và nhu cầu sinh lý của cây trồng, bao gồm béc tưới phun mưa bù áp, cảm biến độ ẩm đất và điều khiển từ xa. Thí nghiệm được thực hiện trên giống sầu riêng Ri6 (</span><em><span class="fontstyle2">Durio zibethinus </span></em><span class="fontstyle0">L. cv. Ri6) ba năm tuổi với hai phương pháp tưới là tự động và thủ công. Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm lượng nước tưới, độ ẩm đất, chỉ số sinh trưởng, tỷ lệ ra hoa, đậu trái, tỷ lệ giữ trái và chín đúng vụ. Kết quả cho thấy nhóm tưới tự động tưới theo nhu cầu nước có tỷ lệ ra hoa cao hơn (68 so với 53%), số trái đậu trung bình cao hơn (7,2 so với 1,3 trái/cây), và tỷ lệ chín đúng thời điểm vượt trội (92 so với 35%). Kết quả đã khẳng định hiệu quả vượt trội của hệ thống tưới tự động không chỉ nâng cao năng suất và chất lượng quả mà còn góp phần tối ưu hóa sử dụng nước, giảm chi phí lao động. Kết quả này khẳng định tiềm năng ứng dụng rộng rãi của công nghệ tưới thông minh trong canh tác sầu riêng.</span></p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triểnhttps://jad.hcmuaf.edu.vn/index.php/jadvn/article/view/1528Đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ ở rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh Tây Ninh2025-10-16T15:06:25+07:00Minh Cảnh Nguyễnnmcanh@hcmuaf.edu.vnAnh Đức Vũanhduckfw04@gmail.comMạnh Hưng Bùihungbm@vnuf.edu.vnVăn Chăm Mạcmacvancham@hcmuaf.edu.vnThị Minh Hải Nguyễnminhhai@hcmuaf.edu.vnThị Thu Nguyễnntthu@hcmuaf.edu.vnLê Thanh Liên Đặngdlthanhlien@hcmuaf.edu.vnThanh Tuyền Hồtuyenhothanh.tl@gmail.com<p><span class="fontstyle0">Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái nhiệt đới, vừa cung cấp lâm sản vừa duy trì chức năng sinh thái và đa dạng sinh học. Nghiên cứu này nhằm phân tích cấu trúc rừng, đa dạng loài cây gỗ và tiềm năng tái sinh, làm cơ sở cho quản lý rừng. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 75 loài cây gỗ thuộc 59 chi, 38 họ, trong đó họ Dầu, Đậu, Đay, Na, Sim và Bồ hòn chiếm ưu thế. Phân tích chỉ số IV% xác định bảy loài ưu thế và đồng ưu thế gồm: Dầu rái, Cò ke, Xoay, Trâm mốc, Cám, Làu táu và Trường chua. Mật độ bình quân đạt 776 cây/ha, trữ lượng 85,2 m³/ha, phân bố chủ yếu ở nhóm đường kính D</span><span class="fontstyle0">1,3 </span><span class="fontstyle0">< 20 cm và lớp chiều cao 5 - 15 m. Chỉ số Shannon - Wiener phản ánh mức độ đa dạng trung bình đến cao, trong khi chỉ số đồng đều Pielou cho thấy không có loài nào chiếm ưu thế tuyệt đối. Tầng cây tái sinh có mật độ cao (6.100 cây/ha), chủ yếu từ hạt, với sự tham gia mạnh của Dầu rái, Cò ke, Xoay, Bằng lăng ổi, Trâm mốc và Cám. Đáng chú ý, tại khu vực đã phát hiện 11 loài gỗ quý, hiếm và nguy cấp thuộc Sách đỏ IUCN 2025, Sách đỏ Việt Nam 2024 và Nghị định 84/2021/NĐ-CP. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho định hướng bảo tồn, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và quản lý bền vững rừng phòng hộ Dầu Tiếng.</span></p>2026-08-25T00:00:00+07:00Copyright (c) 2026 Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển